MỞ ĐẦU Phần 2: NỘI DUNG - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục tỉnh Vĩnh Long thời gian qua. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục tỉnh Vĩnh Long trong thời gian hiện nay.
Phần 3: PHẦN KẾT LUẬN Tài i u tham khảo Phụ ục Luan van 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái ni m - ân lự Nhân lực là chỉ sức ngƣời, bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời, bao gồm cả thể lực và trí lực.
Thể lực chỉ sức lực của cơ thể ngƣời. Trí lực chỉ năng lực trí tuệ. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ giáo dục. Thể lực con ngƣời còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính.
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con ngƣời. Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời, và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con ngƣời có sức lao động.
Trong một tổ chức, nhân lực đƣợc hiểu là sức mạnh của đội ngũ lao động; của đội ngũ cán bộ, công chức trong tổ chức đó. Nhân lực của một tổ chức là toàn bộ những khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động đƣợc cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trƣớc mắt và lâu dài của tổ chức. Nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở các tác nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Luan van 14 Những cá nhân của mỗi tổ chức có các năng lực, đặc điểm, tiềm năng phát triển khác nhau, nên cũng tạo ra những tiềm lực khác nhau cho mỗi tổ chức.
Mặt khác, nhân lực còn đƣợc gọi là lao động sống, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác trong quá trình hoạt động của tổ chức. Số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu nhân lực của tổ chức phụ thuộc vào vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ đƣợc quy định và tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức. Từ những khái niệm trên đây, có thể hiểu một cách khái quát nhân lực là sức lực của con người, làm cho con người hoạt động và phát triển. Khi sức lực của con người phát triển đến một mức độ cần thiết, con người sẽ tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, chính trị, văn hóa, xã hội.
- uồn n ân lự Đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực thể hiện dƣới nhiều góc độ khác nhau. Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các nhân tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng con ngƣời trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời đáp ứng đƣợc một cơ cấu kinh tế xã hội đòi hỏi. Nguồn nhân lực vừa là phƣơng tiện, vừa là mục đích, nguồn nhân lực tƣơng tác với các nguồn lực khác và đó là con ngƣời có cá tính, năng lực riêng.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời. Nguồn lực đó đƣợc xem x t ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân Luan van 15 lực đƣợc hiểu là tổng thể nguồn lực từng cá nhân con ngƣời. Với tƣ cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, k năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân.
Nhƣ vậy, ở đây nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã định nghĩa: Nguồn nhân lực là nói đến năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dƣới dạng tiềm năng của con ngƣời. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hƣớng tiếp cận này có phần thiên về chất lƣợng của nguồn nhân lực. Trong quan niệm này, điểm đáng chú ý là coi các tiềm năng của con ngƣời cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con ngƣời. Theo quan điểm của kinh tế phát triển thì cho rằng, nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi qui định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện trên hai mặt: số lƣợng và chất lƣợng.
Về số lƣợng, đó là tổng số những ngƣời trong độ tuổi lao động làm việc theo qui định của Nhà nƣớc và thời gian lao động có thể huy động đƣợc từ họ; về chất lƣợng, đó là sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của ngƣời lao động. Luan van 16 Các quan niệm trƣớc đây đều cho rằng lợi thế cạnh tranh chủ yếu của một quốc gia hay một tổ chức là khả năng tài chính mạnh, k thuật công nghệ phát triển, ngày nay xã hội nhìn nhận các quan niệm trên đã lỗi thời và nhận thức đƣợc rằng tính năng động, sáng tạo, tự quyết định và bản thân con ngƣời mới là nguồn lực quan trọng và không thể thay thế đƣợc. Nguồn nhân lực là một bộ phận của nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội bên cạnh các nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Nguồn nhân lực đƣợc thể hiện qua các tiêu chí: số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu nguồn nhân lực.
Số lƣợng nguồn nhân lực thể hiện qua các chỉ tiêu qui mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm. Số lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức thể hiện qui mô của tổ chức, số lƣợng nhân viên càng đông, qui mô tổ chức càng lớn và ngƣợc lại. Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một ngành, một địa phƣơng hay một quốc gia nào thì vấn đề đầu tiên là xác định số lƣợng nhân lực ở hiện tại và nhu cầu cho tƣơng lai. Chất lƣợng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, k năng và nhận thức của ngƣời lao động, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.
Do vậy, chất lƣợng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống ngƣời dân trong một xã hội nhất định, đƣợc biểu hiện thông qua các tiêu thức: sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, k năng, nhận thức của nguồn nhân lực. Có thể nói, chất lƣợng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, k năng, sức khỏe, thẩm m. của ngƣời lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem x t, đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực.
Luan van 17 Cơ cấu nguồn nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem x t, đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện trên các phƣơng diện khác nhau nhƣ: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi. Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung đƣợc quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực. Tóm lại, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là tiềm năng lao động của mỗi con người trong một thời gian nhất định.
Nguồn nhân lực là động lực nội sinh quan trọng nhất, được nghiên cứu trên giác độ số lượng, chất lượng và cơ cấu, trong đó trí tuệ, thể lực và phẩm chất, đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng, là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, của địa phương hay một quốc gia. -P t tr ển n uồn n ân lự Phát triển là sự vận động theo chiều hƣớng đi lên, từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ k m hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển đƣợc hiểu đơn giản là quá trình biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao. Phát triển cá nhân liên quan đến phát triển kiến thức, k năng và nhờ đó thay đổi nhận thức, hành vi phù hợp với công việc hiện tại và nhu cầu của tổ chức, nhu cầu của cá nhân.
Cùng với nguồn nhân lực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực đƣợc tiếp cận theo những góc độ khác nhau. X t trên khía cạnh lực lƣợng lao động, phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu là các hoạt động nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho ngƣời lao động khi xã hội có sự tiến hóa, khoa học k thuật và công nghệ có sự tiến bộ rõ rệt; thực chất đó là sự chuẩn bị nhân lực để thích ứng với công việc trong Luan van 18 tƣơng lai.