phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục. Đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực - Chƣơng 2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua - Chƣơng 3.
Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông ngành giáo dục tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - V.Lênin trong quyển sách “Bàn về giáo dục”, ngay từ khi bắt đầu xây dựng nhà nƣớc Xã hội chủ nghĩa, V.Lênin đã rất coi trọng việc xây dựng đội ngũ giáo viên.Lênin yêu cầu phải: nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ của giáo viên… những chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ.TS Võ Xuân Tiến trong bài báo: “Developing human resources from the innovation in higher education” (phát triển nguồn nhân lực từ đổi mới giáo dục đại học), đăng trên tạp chí Khoa học & Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 8(57). Tác giả đã chỉ ra rằng giáo dục và đào tạo là phƣơng tiện chủ yếu quyết định chất lƣợng, là con đƣờng cơ bản để phát triển nguồn nhân lực. Mọi chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội sẽ không thành công nếu không thực hiện tốt chiến lƣợc giáo dục và đào tạo.
- “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực” của PGS.TS Mai Quốc Chánh và PGS.TS Trần Xuân Cầu. Tác giả đã đƣa ra quan điểm của mình về khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực. Theo đó, tác Luan van 4 giả khẳng định phát triển chất lƣợng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực. - T Vũ Bá Thể trong quyển sách: “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiển Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội năm 2005.
Tác giả đã nêu lên những thực trạng NNL ở nƣớc ta trong những năm qua đã làm rõ thực trạng số lƣợng và chất lƣợng NNL nƣớc ta hiện nay, trong đó tập trung phân tích những ƣu điểm, hạn chế và xu hƣớng phát triển của NNL Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của nƣớc ta; đồng thời từ đó, rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của chúng. Từ đó có những định hƣớng và những giải pháp phát huy nguồn lực con ngƣời để công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới. - “Phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á” của Viện Kinh tế Thế giới (2003). Cuốn sách đã giới thiệu các thành tựu đạt đƣợc của nhóm nƣớc trong khu vực trong phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo.
Các chính sách thành công về giáo dục và đào tạo của các nƣớc Đông Á là giải pháp quan trọng trong cung cấp NNL đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa. Đó cũng là bài học cho Việt Nam trong sự nghiệp phát triển NNL. - Tác giả Trần Bá Hoành trong quyển sách: “Vấn đề giáo viên: những nghiên cứu lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm, Hà Nội (2006). Cuốn sách đã đề xuất cách tiếp cận chất lƣợng giáo viên từ các góc độ: đặc điểm lao động của ngƣời giáo viên, sự thay đổi chức năng của ngƣời giáo viên trƣớc yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lƣợng từng giáo viên và chất lƣợng đội ngũ giáo viên.
Các thành tố tạo nên chất lƣợng giáo viên là phẩm chất và năng lực. Theo tác giả, phẩm chất của giáo viên thể hiện ở lòng yêu trẻ và yêu nghề; năng lực của ngƣời giáo viên bao gồm: năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tƣợng dạy học, năng Luan van 5 lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học. Ba nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo viên là: quá trình đào tạo – sử dụng – bồi dƣỡng giáo viên; hoàn cảnh, điều kiện lao động sƣ phạm của giáo viên; ý chí, thói quen và khả năng tự học của giáo viên. Trong quyển sách này, tác giả cũng đề ra các giải pháp cho vấn đề giáo viên.
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Định hướng phát triển giáo dục Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” của PG. Đề tài đã phân tích thực trạng kinh tế – xã hội Việt Nam, một số phƣơng án dự báo phát triển kinh tế – xã hội, hƣớng phát triển ngành nghề, ƣu điểm và nhƣợc điểm của NNL Việt Nam, dự báo tổng quát nhân lực Việt Nam đến 2020,. để làm cơ sở cho xây dựng các định hƣớng phát triển giáo dục. Trên cơ sở đó, đƣa ra một số khuyến nghị phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam để phát triển nghành giáo dục.
- Đề án “Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014-2020” của TS.Nguyễn Công Thành. Đề án này nêu lên đƣợc thực trạng hiện nay của ngành giáo dục – đào tạo tỉnh Quảng Nam, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, qua đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi cao nhằm phát triển giáo dục đào tạo các địa phƣơng miền núi, vùng sâu, vùng xa trong tỉnh. - Luận án tiến sĩ kinh tế của Phan Thủy Chi (2008): “Đào tạo và phát triển NNL trong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế”. Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về đào tạo và phát triển NNL ở các trƣờng đại học nhƣng giới hạn ở việc khảo sát các tác động thông qua các chƣơng trình hợp tác đào tạo quốc tế.
- Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc. Trong luận văn này, tôi hệ thống hóa cơ sở lý luận phát triển nguồn Luan van 6 nhân lực trong phần nghiên cứu của mình, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, đƣa ra những giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới. Luan van 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động.
[3] Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách. Nguồn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm về nguồn nhân lực thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau, đó là: Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời và nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực, thì nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời với các nguồn lực khác. Thứ hai, với tƣ cách là nguồn lực của quá trình phát triển, thì nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, đƣợc biểu hiện ở số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định.
[3] Khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế k XX với ý nghĩa là nguồn lực con ngƣời, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển. Nội dung của nó không chỉ bao hàm những ngƣời trong độ tuổi lao Luan van 8 động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lƣợng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. [3] Theo cách tiếp cận của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và nhận thức của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao động của con ngƣời.
Theo Begg, Ficher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời tích lũy đƣợc, nó đƣợc đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai. Nguồn nhân lực là con ngƣời lao động có nhân cách, có khả năng tích lũy kinh nghiêm nghề nghiệp và vốn sống. Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố tạo thành năng lực của con ngƣời (cá nhân và cộng đồng) với tƣ cách là chủ thể hoạt động có thể huy động, khai thác để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nguồn nhân lực chính là tiềm năng của con ngƣời cả về lƣợng (quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, phân bố dân cƣ…) và chất (tổng hợp những đặc trƣng về thể lực, trí lực, tay nghề, phẩm chất chính trị, tƣ tƣởng, đạo đức…) có thể huy động, khai thác để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
[10] Cũng có ngƣời cho rằng, với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động, không phân biệt ngƣời đó đang phân bổ vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. Với tƣ cách là khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. [23] Theo GS Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một quốc gia sẵn sàng tham gia một công việc nào đó. [11] Luan van 9 Theo PGS.TS Võ Xuân Tiến: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định.