Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ 14 PHÁT TRIỂNNGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội. Thực tiễn quá trình phát triển của thế giới đã khẳng định vai trò rất quan trọng của nguồn nhân lực đó chính là yếu tố con người đối với sự phát triển của một nền kinh tế.
Khái niệmnguồn nhân lực được phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) đưa ra khái niệm: “Nguồnnhân lực là nguồn lực con người, là một bộ phận quan trọng trong dân số, đóngvai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Tùy theo cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực có thể khác nhau, do đó, quy mô nguồn nhân lực cũng khácnhau”. Nguyễn Tiệp (2005) định nghĩa “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cưcó khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngànhnghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”.
Nguồn nhân lực là yếu tố chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Mức độ đáp ứng về NNL đóng vai trò quyết định đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế trong từng điều kiện cụ thể, đầu tư hợp lý vào phát triển NNL sẽ mang lại nguồn lợi lớn hơn so với các nguồn lực khác như vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất đai. Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp, …do mọi cá nhân sở hữu. Đầu tư cho con người là cơ sở vững chắc cho phát triển bền vững.
Đầu tư vào giáo dục có tỷ lệ thu hồi vốn cao so với các lĩnh vực khác: đối với 15 tiểu học là 24%, trung học là 17%, cao đẳng và đại học là 14%, các ngành sản xuất vật chất khác là 13%. Theo UNDP, NNL là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất, là nội lực xã hội của một quốc gia. Việt Nam đang có NNL dồi dào, nếu biết khai thác hợp lý, khoa học sẽ tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo Lê Thị Ngân (2005): “NNL là tổng thể sức lao động của xã hội đang và sẽ được vận dụng cho quá trình sản xuất xã hội”.
Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học Việt Nam, NNL được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khoẻ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc. Từ những quan điểm kể trên có thể rút ra rằng, NNL về chất là tổng thể sức lao động của xã hội, bao gồm cả thể lực và trí lực, được huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. NNL là tổng thể hữu cơ của nhiều yếu tố hợp thành như thể chất, trí tuệ cùng với trình độ văn hoá, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc. của người lao động.
Về lượng, NNL bao gồm toàn bộ những người có khả năng lao động trong nền kinh tế, trong đó thành phần quan trọng nhất là những người trong độ tuổi lao động và đang lao động. nguồn nhân lực là nguồn lực đặc biệt, nguồn nội lực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong điều kiện ngày nay, cho nên cần được quan tâm đầu tư phát triển. Phát triển nguồn nhân lực Sự phát triển nói chung được xem là quá trình vận động theo khuynh hướngđi lên từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.Đó là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng của sự vật theo hướng ngày cànghoàn thiện ở trình độ cao hơn. Tùy theo từng quốc gia, phạm vi và từng giai đoạn cụ thể thì phát triển nguồn nhân lực có mục tiêu chiến lược và chính sách cụ thể.
Trong nhiều trường 16 hợp nó được hiểu như các hoạt động giáo dục đào tạo và phát triển. Xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển nguồn nhân lực. Theo UNESCO: Phát triển NNL là làm cho toàn bộ sựlành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đấtnước - phát triển NNL là phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu vềviệc làm. Quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhânlực là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có đượcviệc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân (trích dẫn theo Lê Văn Kỳ, 2018).
Theo cách tiếp cận của các nhà kinh tế hiện đại: Con người là mục tiêu của sự phát triển chứ không phải là nhân tố sản xuất thông thường. Vì vậy, việc phát triển con người là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, ấm no và bền vững. Vì thế việc phát triển con người không chỉ là sự gia tăng về thu nhập, của cải vật chất mà còn bao gồm cả việc mở rộng khả năng của con người, tạo cho conngười có thể tiếp cận nền giáo dục tốt hơn, chỗ ở tiện nghi hơn và việc làm cóý nghĩa hơn (Đinh Việt Hòa, 2009). Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng: Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, có thể định nghĩa phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý.
Cả ba mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu trong phát triển nguồn nhân lực gắn chặt với nhau, trong đó yêu tố quyết định nhất của phát triển là chất lượng nguồn nhân lực phải được nâng cao. Phát triển nguồn nhân lựccho phát triển kinh tế -xã hội 1.Nguồn nhân lực các tỉnh miền núi 17 Theo Phạm Thị Thanh Hiền (2012), NNL các tỉnh miền núi Việt Nam đã không ngừng được phát triển và biểu hiện qua những đặc điểm chủ yếu như: Thứ nhất, mật độ thấp và phân bố không đều theo lãnh thổ. Đặc điểm này thể hiện ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên tới NNL miền núi so với miền xuôi. Địa hình phức tạp, độ dốc cao, mặt bằng sản xuất kinh doanh phân tán, không cho phép dân cư có thể sinh sống và thực hiện các hoạt động sản xuất tập trung quy mô lớn, từ đó gây nhiều khó khăn cho công tác phát triển NNL cả về thể lực cũng như về trí lực.
Thứ hai, NNL các tỉnh miền núi thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dân số các tỉnh miền núi và đang có xu hướng tăng nhanh. Tại Hà Giang tỷ trọng những người đủ 15 tuổi trở lên đang tham gia hoạt động kinh tế chiếm 83,37% trong tổng dân số toàn tỉnh; tại Cao Bằng là 77,3%; Thái Nguyên là 79%; tại Tuyên Quang dân số trong độ tuổi lao động chiếm 53,9% tổng dân số; Lào Cai là 53%. Sự gia tăng tương đối nhanh về dân số do thực hiện các chủ trương về kế hoạch hóa gia đình còn hạn chế dẫn đến tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm không nhiều, đã tạo nguồn bổ sung liên tục cho NNL các tỉnh miền núi. Nhờ đó, trong cơ cấu NNL các tỉnh miền núi, bộ phận nhân lực trẻ cũng chiếm tỷ trọng cao.
Tuy nhiên, trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế thấp, đặc điểm này thể hiện áp lực ngày càng lớn đối với vấn đề việc làm, thu nhập cũng như công tác nâng cao chất lượng NNL. Do hoạt động kinh tế chủ yếu của nhân dân miền núi là nông, lâm nghiệp với trình độ canh tác thủ công, nên áp lực về việc làm chủ yếu thể hiện ra thông qua tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực miền núi thấp hơn miền xuôi và trung bình của cả nước. Thứ ba, trình độ phát triển của NNL miền núi đang thấp và nâng cao chất lượng NNL miền núi là một thách thức vô cùng lớn. Hoạt động SX của người lao động miền núi thường gắn liền với tự nhiên, chịu ảnh hưởng rất lớn của các điều kiện tự nhiên, cho nên về thể lực NNL các 18 tỉnh miền núi, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, được rèn luyện thường xuyên trong môi trường thiên nhiên.
Tuy nhiên, sự phân bố phân tán cùng với những khó khăn về giao thông, nguồn kinh phí đã và đang gây nhiều khó khăn cho công tác phát triển kinh tế để nâng cao đời sống của nhân dân cũng như công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân miền núi. Trình độ phát triển thấp về GD - ĐT làm cho chất lượng NNL miền núi khó có thể nâng cao bằng với các tỉnh miền xuôi. Thứ tư, về cơ cấu ngành nghề của NNL miền núi. Hoạt động kinh tế chủ yếu của nhân dân miền núi là sản xuất nông, lâm nghiệp, do vậy trong cơ cấu sử dụng NNL các tỉnh miền núi chủ yếu là lao động nông, lâm nghiệp.
Lao động công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng không đáng kể. Yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đối với nguồn nhân lực các tỉnh miền núi Chiến lược phát triển KT - XH của cả nước giai đoạn 2011 - 2020 là: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển; cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân; tạo được nền tảng để đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia; nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế’’ (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI - Tạp chí Cộng sản số 820, tháng 02 năm 2011).