phần mở đầu, 2 chƣơng (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài Luan van 11 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT, TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Một số vấn đề lý luận về xây dựng và thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 1. Quan niệm về nhân tài, thu hút, trọng dụng nhân tài của Đảng bộ Hồ Chí Minh * Một số đặc điểm của thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh là vùng tiếp nối giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, có tọa độ địa lý 10010’-10038’ Bắc và 106022’-106054’ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dƣơng, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần giáp với Biển đông, bờ biển dài 15 km [75, tr 25].
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình TP. HCM thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, trung bình từ 10-25m so với mặt nƣớc biển. Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất xích đạo với 2 mùa rõ rệt, mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình cả năm khoảng 28,6oC; chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 4oC [75, tr 26].
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở hạ lƣu hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn. HCM có hệ thống sông ngòi rất đa dạng, sông Đồng Nai trở thành nguồn nƣớc ngọt chính của thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai thành phố lớn nhất Việt Nam, có diện tích tự nhiên là 2.095,55 km2 và dân số 7.864 (điều tra dân số Luan van 12 01/04/2009) [29] , mật độ dân cƣ có biến động rất lớn trong những năm qua do tốc độ đô thị hóa nhanh và phân bố không đồng đều giữa các quận, huyện, có những nơi trên 40.000 ngƣời/km2 (nội thành), nhƣng cũng có nơi 100 ngƣời/km2 (huyện Nhà Bè, huyện Cần Giờ) [73]. Thành phố có 18 Sở, 19 quận, 05 huyện và 322 xã, phƣờng, thị trấn với 100.558 công chức, viên chức [PL 13].
Số tổ chức cơ sở đảng 2.325 [PL 5], tổng số đảng viên 171. Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lƣu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị thế chính trị quan trọng của cả nƣớc. * Quan niệm về “nhân tài” trong chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh Quan niệm về nhân tài mang tính lịch sử, ở mỗi thời đại khác nhau, gắn với trình độ phát triển của xã hội mà quan niệm nhân tài cũng có sự khác nhau, theo đó tiêu chuẩn của nhân tài cũng khác nhau. Quan niệm về nhân tài còn mang tính giai cấp.
Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau thì quan niệm về nhân tài cũng có những điểm khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm của giai cấp, nhà nƣớc cầm quyền. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều quan niệm về nhân tài, mỗi nƣớc đều đƣa ra những tiêu chuẩn nhân tài làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách đào tạo, trọng dụng nhân tài của mình. Ở Việt Nam “nhân tài” là khái niệm đƣợc dùng phổ biến trong đời sống xã hội, trong chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, trong các công trình nghiên cứu khoa học. Hiểu theo nghĩa chung nhất “nhân tài” là ngƣời là có tài, đức vẹn toàn, tài cao, đức trọng hơn mọi ngƣời, có nhiều cống hiến cho đất nƣớc trên các lĩnh vực, để lại những dấu ấn quan trọng, đƣợc lịch sử ghi danh.
Nhân tài là một nhân cách hoàn chỉnh đƣợc các thế hệ học tập và noi theo cả về tài và đức. Tuy nhiên, khái niệm “nhân tài” Luan van 13 đƣợc hiểu với một số cấp độ khác nhau. Có nhân tài trên một lĩnh vực, một ngành khoa học, có nhân tài trên nhiều lĩnh vực, có nhân tài ở tầm quốc gia, của một đất nƣớc, có nhân tài ở tầm thế giới. Vì vậy, tiêu chuẩn “nhân tài” ở mỗi cấp độ đó không hoàn toàn giống nhau.
Tuy nhiên, khái niệm “nhân tài” dù ở cấp độ nào cùng dùng để chỉ ngƣời có tài, có đức hơn ngƣời, có những cống hiến to lớn, xuất sắc trong một hoặc một số lĩnh vực của xã hội, của một đất nƣớc, đƣợc xã hội thừa nhận, tôn vinh. “Nhân tài” không phải bỗng dƣng xuất hiện, một con ngƣời khi sinh ra không thể đã là nhân tài. Nhân tài bao giờ cũng phải trải qua quá trình học tập, đào tạo, bồi dƣỡng, rèn luyện trong thực tế. Nhân tài phải dựa trên những điều kiện, tiền đề về sinh học (yếu tố bẩm sinh: năng khiếu, tố chất của ngƣời có tài) và những điều kiện, tiền đề xã hội (môi trƣờng xã hội: đƣợc phát hiện, đƣợc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, trọng dụng, tạo điều kiện để nhân tài phát triển, cống hiến).
Vì vậy, để có nhân tài phải có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài để các nhân tài có điều kiện phát triển, cống hiến cho đất nƣớc. Quan niệm “nhân tài” trong chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Đảng bộ TP. HCM có nội hàm xác định, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại… của thành phố, phù hợp điều kiện thực tế trình độ dân trí của đất nƣớc, của TP. Theo đó, điều kiện, tiêu chuẩn của “nhân tài” mà Đảng bộ TP.
HCM xác định trong chính sách thu hút, trọng dụng sẽ cụ thể, thiết thực, không thể đƣa ra những điều kiện, tiêu chuẩn quá cao, mang tầm khu vực, của các nƣớc phát triển, tiêu chuẩn của quốc tế thì sẽ không thể tìm đƣợc “nhân tài” nhƣ mong muốn. Để làm rõ khái niệm nhân tài, cần phân biệt với khái niệm “năng khiếu”, “ngƣời có tài”, “thiên tài”. “Năng khiếu” chỉ khả năng bẩm sinh của một ngƣời về một lĩnh vực hoạt động, một ngành nghề cụ thể. Nếu đƣợc phát hiện, đào tạo thì năng khiếu Luan van 14 đó phát triển, nảy nở giúp cho ngƣời đó phát triển năng lực của mình, có thể trở thành một nhân tài.
Năng khiếu là tố chất ban đầu, hé lộ tài năng của một con ngƣời, nhƣng nếu không đƣợc phát hiện, chăm lo bồi dƣỡng thì năng khiếu đó sẽ bị mai một dần, thậm chí là thui chột hoàn toàn. Vì thế, phát hiện năng khiếu, đào tạo bồi dƣỡng những ngƣời có năng khiếu, nhất là những ngƣời có năng khiếu chuyên biệt là khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự hình thành và phát triển nhân tài của đất nƣớc. “Người có tài”. Ngƣời có tài là ngƣời có khả năng nổi trội, vƣợt trội so với mọi ngƣời trong xã hội về một lĩnh vực hay một công việc cụ thể.
Ngƣời có tài là ngƣời có năng lực thực tế, không còn ở dạng tiềm năng mà đã đƣợc xây dựng, phát triển thành năng lực hiện hữu của con ngƣời, họ thể hiện năng lực đó trong thực tế, mang lại hiệu quả cao, đƣợc xã hội thừa nhận và tôn vinh. Những ngƣời có tài chủ yếu đƣợc Nhà nƣớc đào tạo, bồi dƣỡng mà thành, nhƣng cũng có một bộ phận không nhỏ tự học tập, rèn luyện, khẳng định trong cuộc sống mà thành tài. Ngƣời có tài là nguồn để đào tạo, phát triển thành nhân tài. “Thiên tài” là bậc vĩ nhân, là ngƣời có trí tuệ uyên bác, có năng lực xuất chúng, có công lao to lớn tạo ra những bƣớc ngoặt trên con đƣờng phát triển của quốc gia, dân tộc, của nhân loại, trên những lĩnh vực xã hội loài ngƣời.
Thiên tài luôn mang đến những giá trị chung của nhân loại, của thế giới, của quốc gia. Con ngƣời đƣợc thừa nhận là thiên tài bao giờ cũng thuộc về một quốc gia, dân tộc, nhƣng trí tuệ của thiên tài bao giờ cũng là tập hợp, phản ánh tầm cao trí tuệ của nhân loại, của thời đại đƣợc hôi tụ ở con ngƣời thiên tài để phục vụ cho nhân loại. Thiên tài vốn không nhiều, trong mỗi thời đại thƣờng xuất hiện một số thiên tài, những thiên tài gắn tên mình với thời đại, lƣu danh cùng thời đại. Thiên tài là đỉnh cao của nhân tài có vai trò to lớn trong bồi dƣỡng nhân tài của mỗi quốc gia, dân tộc và trên toàn thế giới, qua các thời đại.
Luan van 15 Từ sự phân tích trên, có thể quan niệm: Nhân tài là những người có năng lực đặc biệt xuất sắc, nổi trội trên một số hoặc nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội, có cống hiến to lớn, xuất sắc, đồng thời là người có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống tốt đáp ứng chuẩn mực, được xã hội thừa nhận và suy tôn. * Những tiền đề, điều kiện hình thành, phát triển nhân tài Nhân tài hình thành và phát triển dựa trên những điều kiện, tiền đề nhất định, bao gồm cả yếu tố sinh học (bẩm sinh) và yếu tố xã hội. Yếu tố sinh học (bẩm sinh) là tiền đề vật chất của sự hình thành, phát triển nhân tài. Những đặc điểm, thuộc tính về mặt cơ thể, hệ thần kinh mang tính bẩm sinh, di truyền.
Nhân tố sinh học không chỉ đóng vai trò đảm bảo sự thích ứng của con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và đáp ứng hoạt động đa dạng phức tạp của con ngƣời, là tiền đề vật chất cho sự hình thành, phát triển nhân tài. Yếu tố xã hội của sự hình thành, phát triển nhân tài. Yếu tố xã hội là môi trƣờng sống của con ngƣời, trong đó nhân tài đƣợc phát hiện, đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng, đƣợc đãi ngộ, tạo điều kiện để nhân tài phát triển, cống hiến. Môi trƣờng xã hội để hình thành và phát triển nhân tài còn bao gồm cả quá trình mỗi nhân tài tự tu dƣỡng, rèn luyện, phấn đấu vƣơn lên.
Nhân tố xã hội có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành, phát triển nhân cách, hình thành nhân tài. Nhân tài hình thành, phát triển và biểu hiện ra trong quá trình hoạt động thực tiễn.