CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cả ở mặt tài và đức [2, tr. “Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” [4]. Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, bao gồm thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của con người, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, mức sống, thu nhập, chế độ dinh dưỡng, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, thời gian lao động. Trí lực chỉ sự hiểu biết, kiến thức, kỹ năng, tài năng cũng như quan điểm, nhân cách… của từng con người.
Nó phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội [24]. Như vậy, nhân lực là toàn bộ thể lực và trí lực của con người, nằm trong mỗi con người, phản ảnh khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội. Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ giữa thế kỷ XX. Ở Việt Nam, khái niệm này được sử dụng rộng rãi từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.
Theo định nghĩa của tổ chức Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực là Luan van 8 trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực hiện có thực tế hoặc dưới dạng tiềm năng của con người (lực lượng lao động) để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. 553] Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. [17] Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một lãnh thổ, một địa phương nhất định đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. 553] Nguồn nhân lực là nguồn lực con người.
Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân.
Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Như vậy, khái niệm nguồn nhân lực có thể hiểu như sau: Nguồn Luan van 9 nhân lực là nguồn lực của con người, là tổng hợp tiềm năng lao động của con người trong một quốc gia, một vùng, một địa phương, một ngành, một tổ chức tại thời điểm nhất định.
Tiềm năng đó bao gồm thể lực, trí lực, đạo đức, nhân cách, kỹ năng nghề nghiệp của bộ phận dân số có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. [2] Phát triển là quá trình biến đổi từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao và từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; là sự tiến bộ, sự đi lên dựa trên nền tảng có sẵn hoặc cải tiến từ hiện tại.
[26] Phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau nên có những khái niệm về phát triển nguồn nhân lực cũng không giống nhau. Theo Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Quan niệm này giới hạn trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Là quá trình làm biến đổi số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. Luan van 10 Theo quan niệm trên thì phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức, tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người. Nó đồng nghĩa với quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt thể lực, trí lực, nhân cách. Dưới góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng và nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý.
Phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ của một đất nước là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao động cao, có kỹ năng sử dụng, lao động có hiệu quả. Dưới góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao sức khỏe, trí tuệ, đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Tổng thể phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất. Trí lực có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm.
Thể lực có được nhờ vào chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trường làm việc. Phát triển nguồn nhân lực được xem xét trên hai mặt chất và lượng. Về chất, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên các mặt: phát triển nhân cách, trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển; về lượng là gia tăng số lượng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản. Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, song có một điểm chung nhất là phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực về mọi mặt: thể lực, trí lực, nhân cách, năng lực chuyên môn, kỹ năng, tay nghề… cùng với quá trình biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân Luan van 11 lực để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội; chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Phát tiển nguồn nhân lực luôn luôn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.2 Nguồn nhân lực trong khu vực hành chính Nhà nước a. Cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành - điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do pháp luật quy định; được thành lập từ trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, tuân thủ tính thứ bậc và thông suốt từ Trung ương đến cơ sở theo nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước. Bên cạnh quan hệ theo hàng dọc với cơ quan cấp trên và cấp dưới, mỗi cơ quan đều có quan hệ theo hàng ngang với cơ quan cùng cấp, đồng thời quan hệ phối hợp với các cơ quan khác.
Thẩm quyền của cơ quan nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn, mang tính tổng hợp. Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước hiệu quả thì cần phân định rõ thẩm quyền, tránh sự chồng chéo giữa các cơ quan. Đặc trưng của cơ quan hành chính nhà nước là tổ chức mang tính quyền lực nhà nước, hoạt động thường xuyên, liên tục, hàng ngày và tương đối ổn định; có tư cách pháp nhân, có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý Luan van 12 với mục đích hướng tới lợi ích công. Nguồn nhân sự trong cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật Cán bộ, công chức.
Cán bộ, công chức hành chính Nhà nước Tùy theo chế độ chính trị, cách thức tổ chức nhà nước, đặc điểm lịch sử của mỗi quốc gia mà có cách định nghĩa khác nhau về cán bộ, công chức. Ở Pháp, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở là các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng của nhà nước ở trung ương và địa phương nhưng không kể công chức địa phương thuộc các hội đồng do địa phương quản lý.