CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC TIỀN GIANG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Lý luận chung về quản lý nhân lực trong tổ chức 1. Khái niệm về nhân lực và quản lý nhân lực a) Khái niệm về nhân lực Khái niệm nhân lực nói chung, được hiểu là nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách, và được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau: - “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động”[14, tr. - Theo Nguyễn Tiệp (2005), “Nhân lực là thể lực, trí lực, tâm lực của mỗi người được sử dụng trong quá trình thực hiện công việc. Theo đó, nhân lực được hiểu là thể lực phản ánh tình trạng sức khoẻ; trí lực phản ánh trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng, khả năng làm việc tương ứng với công việc; tâm lực là thái độ của người lao động đối với công việc” [18]. - Nhân lực của tổ chức được xác định như là “Tiềm năng của người lao động hoạt động trong tổ chức đó, bao gồm tổng hoà năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng yêu cầu do ngành nghề hoạt động đáp ứng yêu cầu của tổ chức.
Toàn bộ tiềm năng đó hình thành năng lực nghề của nguồn nhân lực. Năng lực đó có được thông qua giáo dục, đào tạo và phát triển nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ. và không ngừng được nâng cao trong quá trình sống và làm việc”[16]. Qua đó các khái niệm trên cho thấy, nhân lực là năng lực sẵn có của mỗi con 5 van người trong một tổ chức, một ngành kinh tế hay nền kinh tế, phản ánh tình trạng sức khoẻ, trí lực phản ánh trình độ học vấn,trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng, khả năng làm việc… của người lao động hoạt động trong tổ chức, nhằm đáp ứng yêu cầu của tổ chức về ngành nghề hoạt động.
a) Khái niệm về nguồn nhân lực NNL là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội. Thực tiễn quá trình phát triển của thế giới đã khẳng định vai trò rất quan trọng của nguồn nhân lực đó chính là yếu tố con người đối với sự phát triển của một nền kinh tế. Dưới đây là một số khái niệm chính về nguồn nhân lực: - Theo Vũ Thị Hà (2016), “Nhân lực là tổng thể các nguồn lực trong mỗi con người cấu thành năng lực làm việc của họ, được sử dụng trong quá trình lao động. nhân lực chỉ một cá nhân người lao động cụ thể, còn nguồn nhân lực lại chỉ một tập hợp người có vai trò khác nhau, được liên kết với nhau theo các mục tiêu đã xác định.
Khái niệm nguồn nhân lực thường gắn với một phạm vi nhất định: quốc gia, vùng, ngành (gọi chung là phạm vi xã hội) hay tổ chức” [6, tr. Ở phạm vi xã hội, NNL là những nguồn lực hiện có hoặc tiềm năng của những người lao động trong xã hội, có thể hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Theo nghĩa rộng:“Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Khái niệm này không tính đến độ tuổi của lao động và xem xét nguồn nhân lựctheo một tiến trình liên tục khi tính tới những tiềm năng lao động trong tương lai của nguồn nhân lực”.
Theo nghĩa hẹp: “Nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động, bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm (gồm cả những người trên tuổi lao động thực tế đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do những nguyên nhân khác nhau (đang đi học, đang thất nghiệp, đang làm công việc nội trợ trong gia đình hoặc không có nhu cầu việc làm)” [6, tr. Ở phạm vi tổ chức, cũng có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, cụ thể: 6 van - Theo George T. Mikhovich và Tohn W.Boudreau (1997), “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức”[11, tr. - Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), thì cho rằng “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [5].
- Theo Bùi Văn Nhơn (2006), nhận xét “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là sốngười có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”[12, tr. - Theo Nguyễn Tiệp (2008), thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [18]. - Phạm Minh Hạc (2001), nhận định “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó” [8]. - David Begg và cộng sự (1995), cho rằng “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai”[1, tr. Qua các khái niệm về NNL nêu trên, cho thấy khái niệm NNL được hiểu theo hai nghĩa: - Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. - Theo nghĩa hẹp, NNL có khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả 7 van năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
c) Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2008), quản lý NNL nghiên cứu các vấn đề quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản [4, tr.2]: - Một là, sử dụng có hiệu quả NNL nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức; - Hai là, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tụy với tổ chức. Như vậy, quản lý nguồn nhân lực là hệ thống các quan điểm, chính sách và hoạt động thực tiễn sử dụng trong quản trị con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức và nhân viên. Vấn đề này được các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm như sau: - Quản lý NNL là “Việc thiết kế các hệ thống chính thức trong một tổ chức để đảm bảo hiệu quả và hiệu quả sử dụng tài năng của con người nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức (Mathis& Jackson, 2007)”[19, tr. - Theo Trần Kim Dung (2008), quản trị nguồn nhân lực (QT NNL) là “Hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo-phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” [4, tr.
Theo Nguyễn Hữu Thân (2008), Quản trị nhân sự là “Sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức” [13, tr. Qua đó cho thấy, QT NNL gắn liền với mọi tổ chức bất kể tổ chức đó có phòng hoặc bộ phận quản trị nhân sự hay không. QT NNL là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị và nó có gốc rễ cùng các nhánh trải rộng khắp nơi trong một tổ chức. 8 van Nghiên cứu QT NNL giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác.
Về mặt kinh tế, quản lý NNL giúp cho tổ chức khai thác các khả năng tiềm năng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của tổ chức về NNL. Về mặt xã hội, QT NNL thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động. Qua đó cho thấy, quản lý NNL được phát triển dựa trên cơ sở chủ yếu của các nguyên tắc sau [4, tr.8]: (1) Nhân viên cần được đầu tư thỏa đáng để phát triển năng lực riêng nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, đồng thời tạo ra năng suất lao động, hiệu quả làm việc cao, và đóng góp tốt nhất cho tổ chức; (2) Các chính sách, chương trình và thực tiễn quản trị cần được thiết lập sao cho có thể thỏa mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của nhân viên; (3) Môi trường làm việc cần được thiết lập sao cho có thể kích thích nhân viên phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình; (4) Các chức năng nhân sự cần được thực hiện phối hợp và là một bộ phận quan trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.Vai trò và mục tiêu của quản lý nhân lực trong tổ chức a) Vai trò của quản lý nhân lực Quản lý nhân lực giúp cho nhà quản lý đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả mà thiếu công tác quản lý nhân lực.