phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Lý luận về công chức cấp xã và chất lƣợng công chức cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng công chức cấp xã huyện Quan Sơn. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã huyện Quan Sơn.
8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức “Công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nƣớc cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nƣớc chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những ngƣời hoạt động quản lý nhà nƣớc.
Một số nƣớc khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những ngƣời thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng” [24] Năm 2008, Quốc Hội nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bƣớc tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hóa quan điểm, đƣờng lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCH của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, khoản 2 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên 9 nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Để hƣớng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới nhƣ Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” 1. Khái niệm đội ngũ công chức cấp xã.
Khái niệm công chức cấp xã đƣợc quy định tại Khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Khái niệm đội ngũ công chức cấp xã là lực lƣợng lao động chủ đạo, yếu tố cơ bản trong quản lý và tổ chức công việc của nhà nƣớc. Hai là, đội ngũ công chức chính là nhân tố quyết định sự thành bại trong việc thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, đội ngũ công chức cấp xã đƣợc tuyển dụng và phụ trách những lĩnh cực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mƣu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo 10 công tác, thực hiện các chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc.
Theo khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trƣởng công an; b) Chỉ huy trƣởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tƣ pháp - hộ tịch; g) Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã do huyện quản lý Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã - Số lƣợng công chức cấp xã Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ- CP ngày 22/10/2009 và đã sửa đổi năm 2019 của Chính phủ quy định: Số lƣợng cán bộ, công chức cấp xã đƣợc bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 tối đa không quá 23 ngƣời, cấp xã loại 2 không quá 21 ngƣời, cấp xã loại 3 không quá 19 ngƣời (bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động về cấp xã). Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã Đội ngũ công chức cấp xã là những ngƣời làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mƣu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực công 11 tác đƣợc phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao. Công chức xã là ngƣời trực tiếp tham mƣu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân, thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc theo đúng chính sách và thẩm quyền đƣợc UBND cấp xã giao.Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã Công chức cấp xã là một bộ phận của đội ngũ công chức đƣợc tạo nên từ nguồn chính là tuyển dụng.
Do các tổ chức hành chính nhà nƣớc có cấu trúc thứ bậc, thực hiện các chức năng đa dạng, phức tạp nên công chức cấp xã cũng có những đặc trƣng cơ bản giống các đối tƣợng công chức khác, đó là: - Công chức là nhân tố chủ yếu, nhân tố hàng đầu đóng góp vào sự tồn tại, phát triển của cơ quan, tổ chức. Đồng thời họ chịu sự ràng buộc theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định do tổ chức đặt ra. - Công chức mang tính Đảng, tính giai cấp rõ rệt và sản phẩm của họ là các quyết định quản lý; công chức là những ngƣời đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; là chủ thể của nền công vụ, là những ngƣời thực thi công vụ và đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ; - Công chức hoạt động mang tính chất ổn định, ít chịu biến động nhằm duy trì tính ổn định, liên tục của nền hành chính; họ đƣợc bảo hộ bằng quy định “biên chế nhà nƣớc”. Bên cạnh những đặc điểm chung giống nhƣ công chức khác, do đặc thù hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã nên đội ngũ này có những đặc điểm đặc thù: 12 Thứ nhất, hầu hết đội ngũ công chức xã, phƣờng, thị trấn đều là ngƣời địa phƣơng, sinh sống tại địa phƣơng, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với ngƣời dân tại địa phƣơng đó.
Công chức chính quyền cấp xã là những ngƣời xuất phát từ cơ sở, họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là ngƣời đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, giải quyết các công việc của nhà nƣớc. Do vậy, xét ở khía cạnh nào đó, công chức cấp xã bị chi phối, ảnh hƣởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phƣơng, của dòng họ. Thứ hai, sản phẩm hoạt động của công chức cấp xã là các quyết định quản lý hành chính có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội và cục diện địa phƣơng. Vì vậy đòi hỏi ngƣời công chức phải có trình độ hiểu biết sâu rộng, có kỹ năng làm việc thuần thục trên lĩnh vực mà họ đảm nhiệm.
Thứ ba, công chức cấp xã của cả nƣớc hiện nay rất đông, tuy nhiên về chất lƣợng lại rất yếu, độ tuổi tƣơng đối già. Hơn nữa, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ chủ chốt chính quyền cơ sở chƣa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý nhà nƣớc ở chính quyền cơ sở. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc của đội ngũ công chức cấp xã chƣa cao. Chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã và nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã 1.
Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Chất lƣợng là một phạm trù trừu lƣợng, nó mang tính chất định tính và khó định lƣợng, chúng ta không thể cân đo đong đếm đƣợc. Dƣới 13 mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lƣợng cũng khác nhau. Chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã, có thể hiểu chất lƣợng của đội ngũ công chức là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân (khách hàng) về cung ứng các dịch vụ hành chính. Tiêu chí để đánh giá chất lƣợng công chức cũng đa dạng: có thể là tỷ lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; có thể là do sự đo lƣờng về mức độ thỏa mãn của ngƣời dân khi hƣởng thụ dịch vụ hành chính liên quan đến các yếu tố, nhƣ sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hài lòng về thời gian giải quyết công việc của ngƣời dân….
Chất lƣợng đội ngũ công chức đƣợc đánh giá dựa trên tiêu chuẩn của đội ngũ công chức, là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức…,của những ngƣời công chức theo những tiêu chí nhất định đối với từng ngành nghề riêng biệt. Để đánh giá chất lƣợng công chức, cần nói tới chất lƣợng của mỗi công chức vì mỗi công chức là một phần, một bộ phận của công chức.