Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Công chức Khái niệm công chức của một số nước trên thế giới - Công chức (theo quan niệm của Anh, Thái -lan, Xin-ga-po) là những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các Bộ thuộc Chính phủ. Theo quan niệm này, những đối tượng khác tuy làm việc ở Bộ nhưng không trực tiếp làm công tác chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng quản lý của Bộ thì không phải là công chức; và cũng theo quan niệm về công chức như vậy thì những người làm việc trong bộ máy của chính quyền địa phương cũng không phải là công chức.
- Công chức (theo quan niệm của Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hung-ga- ri.) là không chỉ những người thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các Bộ (trung ương) mà còn bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền của các địa phương. - Công chức (theo quan niệm của Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha.) bao gồm cả những người thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả ngành lập pháp, tư pháp. 11 Luan van - Ở Pháp, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức bao gồm cả trung ương, địa phương [29]. Nhìn chung, quan niệm về công chức ở các nước trên thế giới có nhiều điểm cơ bản chung là giống nhau.
Nên có thể hiểu khái quát, công chức là công dân của một nước được tuyển dụng qua thi tuyển, được Nhà nước đó bổ nhiệm vào một ngạch hoặc được giao một vị trí công việc được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và họ được sử dụng quyền lực công để thực hiện nhiệm vụ trong quá trình công tác. Song cũng do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặc điểm thể chế chính trị, hành chính, sự phát triển kinh tế nên mỗi nước/ mỗi quốc gia có những điểm riêng quan niệm về công chức. Khái niệm công chức của Việt Nam Ở Việt Nam, khái niệm công chức được đề cập gắn liền với sự hình thành, phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nước. Trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức lần đầu tiên được nêu ra khái niệm công chức là: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định".
Cùng với sự phát triển của đất nước và nền hành chính nhà nước gắn liền từng bước cải cách chế độ công vụ, công chức, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể và chi tiết ở nhiều văn bản, song đến nay chúng vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Năm 2008, Quốc hội 12 Luan van nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, ở đó xác định: “Công chức là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [31, tr. Như vậy, công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt nam; các tổ chức Chính trị xã hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ương đến cấp xã (Đối với cấp xã, chỉ những người đứng đầu các đoàn thể nhân dân mới được xác định là công chức; còn các chức danh cấp phó của các đoàn thể nhân dân đến cấp phó của xã đội, công an xã không nằm trong khu vực công chức. Với sự ra đời Luật Viên chức 2010 có hiệu lực năm 2012 là căn cứ pháp lý để khu biệt ngày càng rõ hơn đối tượng được xác định là công chức.
13 Luan van Trong khuôn khổ luận văn này, đề cập đến công chức hành chính nhà nước nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Chất lượng công chức Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật. Hiệp Hội về chất lượng của Hoa Kỳ (ASQ) đã định nghĩa chất lượng là "tổng hợp những đặc tính và đặc điểm của một sản phẩm hay dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng" [28]. Theo tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam (TCVN-ISO 8402) định nghĩa: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn.
Và theo TCVN 9000:2000 định nghĩa: Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Ở quan niệm chung, “chất lượng” là cái tạo nên tổng hợp giá trị, phẩm chất của một người/ tổ chức, một sự vật/ sự việc. Những giá trị, phẩm chất đó đáp ứng đến đâu so với yêu cầu đã được xác định trong một thời gian và không gian xác định về một con người/ tổ chức, một sự vật/ sự việc đó. Vì thế, đề cập đến chất lượng của một con người là xem xét đến mức độ họ đạt được (các mức độ ngang tầm - dưới tầm - vượt tầm, cao - thấp, đạt - không đạt) so với yêu cầu đặt ra trong một thời gian và không gian được xác định cụ thể.
Khi phân tích, đánh giá chất lượng của một con người đòi hỏi phải phân tích, đánh giá chất lượng của từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành nên hoạt động của họ trong mối thống nhất, biện chứng và ràng buộc - tác động lẫn nhau giữa chúng. Do đó, Đại hội VI của Đảng đã xác định: “Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ” [17, tr. 14 Luan van Chất lượng công chức được đo lường thông qua tính hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, cũng như trình độ và năng lực trên cơ sở hoạt động thực hiện chức năng của đội ngũ công chức, đồng thời phản ánh cơ chế về mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng giữa các yếu tố, các thành viên cấu thành tạo nên phương thức thực hành công vụ đạt hiệu quả, có chất lượng trong điều kiện cụ thể. Như vậy, chất lượng công chức hiện nay phải là sự tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng của công chức về mặt con người và các mặt hoạt động, quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của công chức trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Từ đó, có thể định nghĩa: Chất lượng công chức là sự tổng hợp các thuộc tính cần có của cá nhân công chức để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, đó là phản ánh sự vận dụng trình độ, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng sống với phẩm chất, động cơ/ thái độ tích cực của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ của công chức trong cơ quan hành chính nhà nước. Công chức cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương [14]. Theo đó, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện [14] gồm có ở 13 phòng: Phòng Nội vụ; Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; Phòng Văn hóa và Thông tin; Phòng Giáo dục và 15 Luan van Đào tạo; Phòng Y tế; Thanh tra huyện; Văn phòng HĐND và UBND; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Phòng Kinh tế và Hạ tầng; Phòng Dân tộc.
Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý của UBND cấp huyện về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Chất lượng công chức cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Chất lượng công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là sự tổng hợp các thuộc tính cần có của cá nhân công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện để tạo khả năng giải quyết vấn đề thuộc các lĩnh vực liên quan cung ứng các dịch vụ hành chính nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển huyện. Tính hiệu lực, hiệu quả của nền công vụ phụ thuộc chủ yếu và được quyết định trực tiếp bởi chất lượng (phẩm chất, trình độ, năng lực công tác) của đội ngũ công chức hành chính Nhà nước.