Chương 1. Cơ sở lý luận về đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện; Chương 2. Thực trạng công tác đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Krông Pắc- tỉnh Đắk Lắk; Chương 3. Phương hướng và giải pháp đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Krông Pắc - tỉnh Đắk Lắk.
13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đánh giá công chức Đánh giá là thuật ngữ được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở một nghĩa chung nhất đánh giá có nghĩa là nhận định giá trị, vì thế đánh giá được xác định gần nghĩa với nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét.
Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường, vì thế đánh giá có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, quản lý, văn hóa nghệ thuật, kinh tế thương mại, giáo dục hay môi trường. Dưới góc độ quản lý, đánh giá được xác định là quá trình thu thập, xử lý thông tin để định lượng tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả. Trong khoa học quản lý, đánh giá được xác định là một hoạt động nhằm nhận định và xác nhận giá trị thực trạng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đánh giá được tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý, vì thế đánh giá được xác định là đánh giá nhân lực nói chung và đánh giá công chức nói riêng, đó là hoạt động gắn liền với việc quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm phát huy tối đa nguồn nhân lực phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức.
14 Đánh giá được xác định ở đây là đánh giá con người nên dễ bị chi phối, ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan và khách quan. Các yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng đồng thời lại chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác có liên quan khác trong quá trình tổ chức đánh giá. Trong đánh giá nhân sự nói chung, đánh giá công chức nói riêng không thể bỏ qua các yếu tố này. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy Ban Nhân dân huyện 1.
Công chức Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên thuật ngữ này có nội hàm khác nhau giữa các nền hành chính và ngay trong từng nước cũng có sự khác nhau trải qua-các thời kỳ lịch sử khác nhau. Ở nước ta thuật ngữ công chức mang dấu ấn lịch sử-chính trị rõ rệt. Sau thành công của cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc nước ta.
Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp đầu tiên là cơ sở, nền tảng cho Sắc lệnh 76/SL về quy chế công chức Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Tại Điều 1 của Sắc lệnh 76/SL quy định: "Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định" [13 tr. Theo quy định này thì công chức là những người làm việc thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước. Khi Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bước vào công cuộc vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa là hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng Miền Nam thì Sắc lệnh 76/SL năm 1950 cũng có những thay đổi nhằm phù hợp với yêu cầu của tiến trình phát triển chế độ công chức dần được thay thế bằng chế độ "cán bộ, công nhân viên chức" bao gồm tất cả những người làm việc trong cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, 15 các đơn vị kinh tế nhà nước.
Tất cả đều thuộc biên chế nhà nước và được gọi là "cán bộ, công chức, viên chức nhà nước" chung chung, không phân biệt ai là cán bộ, công chức, viên chức. Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trước yêu cầu của quá trình đổi mới, bên cạnh việc đổi mới tư duy về kinh tế cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc xây dựng bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, năng động cùng với việc đổi mới cách thức quản lý những con người làm việc trong bộ máy này. Ngày 25/5/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã ban hành Nghị định 169-HĐBT về Công chức nhà nước. Cũng bắt đầu từ đây thuật ngữ "công chức" được sử dụng lại ở Việt Nam với nội dung mới.
Theo Nghị định này "Công dân Việt nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước" Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 (sửa đổi năm 2003) đã đưa ra khái niệm chung cho cả cán bộ, công chức mà không phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Điều 1 quy định "Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nám, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định 117/2003/NĐ-CP về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, trong đó xác định khá rõ quan niệm về công chức. Theo Nghị định này, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ, công vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Nghị định trực tiếp chỉ ra những người được coi là công chức khi làm việc trong các cơ quan, tổ chức sau: 1. Văn phòng Quốc hội; 2. Văn phòng Chủ tịch nước; 16 3. Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; 4.
Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp; 5. Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; 6. Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân; 7. Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Luật Cán bộ, công chức 2008 ra đời là bước tiến mới trong việc xây dựng và hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam. So với Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998, Luật Cán cộ, công chức đã có những quy định mới quan trọng, đó là tách bạch rõ ràng những người là cán bộ, những người là công chức và tách đối tượng là viên chức ra khỏi quy định này; quy định về chế độ công vụ và nguyên tắc khi thi hành công vụ. Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Luật cũng quy định về công chức cấp xã, cụ thể công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
17 Trên cơ sở Luật Cán bộ, công chức 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức. Theo quy định này thì công chức ở Việt Nam được xác định sẽ bao gồm: - Công chức làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; - Công chức làm việc trong cơ quan nhà nước; - Công chức làm việc trong các tổ chức chính trị-xã hội; - Công chức làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam; - Công chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy Ban Nhân dân huyện Như đã đề cập đến ở trên, công chức ở nước ta hiện nay được xác định khá rộng: Đối với cấp huyện sẽ có công chức làm việc trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội cấp huyện và các đơn vị sự nghiệp do cấp huyện quản lý. Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện.
Theo quy định của Hiển pháp 1992 và Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003 thì cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức tại cấp huyện sẽ bao gồm UBND cấp huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Nhiệm kỳ của UBND theo nhiệm kỳ của HĐND. Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến đối tượng là công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Krông Pắc được thành lập theo quy định tại Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh.