Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò của đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế và xã hội của một quốc gia, một tổ chức.
Khái niệm nguồn nhân lực có thể đưa ra dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo Giáo trình Nguồn nhân lực, trường Đại học Lao động – Xã hội thì nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”[8;7]. Nguồn nhân lực có thể hiểu là nguồn lực của doanh nghiệp, người được trả lương làm nhưng công việc trực tiếp hoặc gián tiếp. Ví dụ, nhân viên kinh doanh trong một doanh nghiệp là nguồn nhân lực mang lại những bản hợp đồng trực tiếp. Trong nguồn nhân lực lại được chia ra bao gồm có nhân viên, nhà quản lí.
Với doanh nghiệp lớn thì nguồn nhân lực lớn và ngược lại. Nguồn nhân lực là những con người cụ thể đảm nhận một chức vụ hay một vị trí công tác nào đó trong tổ chức. Có cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản khái niệm về nguồn nhân lực được xác định bởi những thông tin về quy mô lực lượng lao động, cơ cấu lực lượng này theo các đặc tính: giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề …hay sự nỗ lực, tận tâm, khả năng sáng tạo, sự trung thực. Theo giáo trình Quản trị Nguồn nhân lực do TS.Trần Kim Dung, NXB Thống kê, 2018: “Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì”[7;5,6].
Với cách hiểu này nguồn nhân lực thể hiện qua cả thể lực, trí lực của mọi thành viên trong tổ chức. Đối với mỗi nhân sự trong doanh nghiệp sẽ có vai trò và nhiệm vụ riêng nên mỗi vị trí có yêu cầu riêng. Ví dụ, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: đội ngũ nhà quản lý, nhân viên kinh doanh, nhân viên các phòng ban, đội ngũ công nhân, đội ngũ nhân viên kĩ thuật, nhân viên phục vụ.nhưng đội ngũ có vai trò đem lại những bản hợp đồng, là hình ảnh đại diện của doanh nghiệp trước khách hàng và thực hiện nhiệm vụ đạt doanh thu theo từng mốc thời gian khác nhau chính là đội ngũ nhân viên kinh doanh. Khái niệm Đào tạo 7 Luan van Theo giáo trình Quản trị Nhân Lực (Tập II) của trường Đại học Lao động – Xã hội do tác giả Lê Thanh Hà chủ biên, in năm 2009 thì: “Đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc.
Với cách hiểu này, việc đào tạo phải được thiết kế sao cho thỏa mãn được nhu cầu đã xác định, có phân công vai trò và trách nhiệm của những người đã tham gia và có xác định mục tiêu rõ ràng. Hay theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn”[5;153]. Có nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau tuy nhiên hiểu một cách chung nhất: Đào tạo là quá trình bù đắp những thiếu hụt về mặt chuyên môn, kỹ năng, thái độ cho người lao động để đáp ứng yêu cầu công việc của hiện tại.
Với khái niệm này, đào tạo người lao động được thực hiện hoạt động đào tạo những kĩ năng về chuyên môn, nghiệp vụ và các kiến thức ngành, kiến thức có liên quan còn thiếu hụt nhằm bù đắp, nâng cao khả năng tại thời điểm hiện tại. Để đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại nguồn nhân lực thiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ không đáp ứng yêu cầu công việc của hiện tại dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực bị giảm sút. Người lao động thiếu những tiêu chí nào đào tạo cái đó. Nhân viên mới: đào tạo những kỹ năng như tìm kiếm sản phẩm, kỹ năng tìm nguồn khách hàng, kỹ năng giao tiếp căn bản với khách hàng.; Thái độ đào tạo cho họ cách trả lời khách qua điện thoại, hoặc khi gặp trực tiếp, cách thể hiện thái độ ra bên ngoài.
Kiến thức đào tạo các kiến thức về sản phẩm, dịch vụ của công ty đang làm. Nhân viên kinh doanh: đào tạo những kỹ năng chốt hợp đồng, kỹ năng nắm bắt tâm lý khách hàng.; Thái độ, đào tạo cho họ nâng cao các kỹ năng của nhân viên mới; Kiến thức cũng đào tạo tương tự như nhân viên mới như được nâng cao lên thành các quy trình làm việc rõ ràng, chuyên nghiệp nghiệp. Nhà quản lý: đào tạo chủ yếu các kỹ năng về hoạch định, quản lý nhóm, lập kế hoạch và ra quyết định. Ở mỗi đối tượng công ty lựa chọn những kiến thức, kỹ năng đào tạo cho họ khác nhau.
Có thể thấy đào tạo nhân viên mới và nhân viên kinh doanh không có sự 8 Luan van khác nhau nhiều khi đều đào tạo 3 tiêu chí về kiến thức, thái độ, kỹ năng. Tuy nhiên, khi là nhân viên kinh doanh làm việc chính thức họ được đào tạo một cách chuyên sâu hơn khi mới vào công ty. Còn nhà quản lý, để được tham gia khóa đào tạo này họ phải là những người hội tủ đầy đủ các kiến thức, kỹ năng, thái độ và những thành tích cá nhân, do đó chỉ tập trung đào tạo các kỹ năng để phục vụ ở chức quản lý. Khái niệm nhân viên kinh doanh Theo Luận án Thạc sĩ của tác giả Đặng Công Hoan (2019), “Đào tạo nhân viên kinh doanh của Tổng công ty Cổ phần Bưu chính Viettel”: “nhân viên kinh doanh” là những người được thuê để bán hàng hóa và dịch vụ của một cửa hàng hoặc một lãnh thổ nhất định [9;9].
Nhân viên kinh doanh hay nhân viên bán hàng là người chịu trách bán các sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đang kinh doanh hoặc sản xuất. Công việc cụ thể là tìm kiếm khách hàng tiềm năng sau đó giới thiệu, tư vấn và thuyết phục khách hàng mua sản phẩm dịch vụ [16;9]. Nhân viên kinh doanh có những đặc điểm sau: Sơ đồ 1.1: Đặc điểm của nhân viên kinh doanh Khả năng chịu áp lực Tiếp xúc trực tiếp với công việc tốt. khách hàng Đặc điểm của nhân viên kinh doanh Mang hình ảnh của Thuộc bộ phận hay có doanh nghiệp đến với đối sự thay đổi về mặt nhân tác bên ngoài sự [Nguồn: 9;9] Đào tạo nhân viên kinh doanh trong doanh nghiệp Đào tạo nhân viên là một chương trình do người có thẩm quyền thực hiện nhằm cung cấp cho các nhân viên cụ thể những kỹ năng, kiến thức cần thiết cho vai trò hiện 9 Luan van tại của họ.Đào tạo nhân viên kinh doanh có thể hiểu là quy trình bù đắp những thiếu hụt về mặt kiến thức chuyên môn, kỹ năng, thái độ cho những nhân viên kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại của doanh nghiệp.
Về kiến thức, nhân viên kinh doanh sẽ được bù đắp kiến thức về sản phẩm. Một điều quan trọng của một nhân viên kinh doanh là bản thân phải về sản phẩm mới có thể đi tư vấn cho khách hàng. Về kỹ năng, NVKD (nhân viên kinh doanh) cần có là kỹ năng giao tiếp; xử lý công việc linh hoạt; kỹ năng phán đoán; kỹ năng tìm kiếm sản phẩm. Trong đó kỹ năng giao tiếp là kỹ năng cần phải có đầu tiên, nó thể hiện qua lời ăn tiếng nói, cử chỉ khi tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với khách, nó giúp NVKD tạo ra những mối quan hệ tốt với khách hàng.
Kỹ năng phán đoán là khả năng dẫn dắt khách hàng thông qua những tình huống cụ thể để thuyết phục khách hàng, giúp khách nhận thức rõ về sản phẩm mà họ đang giới thiệu. Kỹ năng tìm kiếm sản phẩm là thể hiện sự nhanh nhạy trong tìm kiếm sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau thông qua mạng xã hội, báo chí, giới thiệu. Tóm lại những kỹ năng này đều bổ trợ trực tiếp cho người NVKD trong quá trình làm việc. Thái độ là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với mỗi NVKD, thái độ sẽ quyết định khách hàng có muốn được tư vấn không và luôn coi khách hàng là thượng đế.
Khách hàng chính là gián tiếp người trả lương cho mình do đó thái độ của NVKD ảnh hưởng đến mức lương nhận được. Do đó, cần đào tạo để NVKD có thái độ làm việc theo đúng chuẩn mực nghề nghiệp. Vai trò đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp: Đào tạo quyết định doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển; Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc; Nâng cao chất lượng của thực hiện công việc; Giảm bớt sự giám sát vì người lao động được đào tạo là người có khả năng tự giám sát bản thân trong công việc; Tạo ra tính ổn định và năng động của tổ chức; Tạo ra lợi thế cạnh tranh chiến lược cho tổ chức; Chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận làm cơ sở cho đề bạt và thăng tiến cán bộ; Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực; Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp. Đối với người lao động: Gắn bó giữa người lao động với doanh nghiệp; Tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động, mang lại sự thích ứng cao giữa người lao động 10 Luan van và công việc hiện tại cũng như tương lai; Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động, tạo cơ hội thăng tiến; Tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc.
Giúp nhân viên luôn cập nhật được kiến thức mới về khoa học kỹ thuật, môi trường kinh doanh và các chính sách mới. Đối với xã hội: Nâng cao chất lượng nhân lực cho xã hội; Góp phần tăng trưởng phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Khi nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc sẽ hạn chế tối đa tình trạng thất nghiệp trong xã hội từ đó tránh được các tệ nạn xã hội.