Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm động lực làm việc Theo lý thuyết của Maslow (1943), nhu cầu là động lực của con người được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao bao gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự thể hiện. Theo Hackman và Oldham (1976), động lực bao gồm các nhân tố như ý nghĩa công việc, trách nhiệm, và kiến thức công việc. Kreitner and Kinicki (2009) cho rằng, động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định.
Đó là sự tự nguyện, khát khao, sự cố gắng có định hướng nhằm đạt được mục tiêu của mỗi cá nhân. Carr (2005) nhận định động lực làm việc có ý nghĩa như một sự thúc đẩy từ bên trong một cách có ý thức hoặc vô thức dựa trên các nhu cầu cơ bản của nhân viên. Đây chính là yếu tố thúc đẩy người lao động tích cực làm việc. Arnold và Kol (2007) đã xác định động lực theo cách sau: Động lực liên quan đến những vấn đề ảnh hưởng và thúc đẩy con người đưa ra quyết định về việc phải làm gì, làm thế nào và có khả năng duy trì trong thời gian bao lâu.
Như vậy, các định nghĩa của các tác giả nghiên cứu về động lực lao động thì khái niệm động lực lao động bao gồm những khía cạnh sau: (1) Động lực lao động là sự tự nguyện, khát khao làm việc; (2) Động lực lao động là một quá trình tâm lý; (3) Động lực là sự cố gắng để đạt mục tiêu; (4) Động lực lao động là việc tự nguyện làm công việc để người lao động thông qua đó đạt mục tiêu cá nhân. Do đó, chúng ta có thể hiểu rằng “động lực lao động là việc tự nguyện, khát khao, cố gắng làm việc mà công việc đó giúp người lao động đạt mục tiêu cá nhân trong sự phù hợp với mục tiêu của tổ chức”. Nhà quản trị cần phải thấy được rằng từng người khác nhau có những nhu cầu khác nhau, đồng nghĩa rằng động lực làm việc của từng người là không giống nhau. Từ sự nhìn nhận đánh giá đó, các cấp lãnh đạo quản 6 lý cần có những biện pháp khác nhau, phù hợp với nhu cầu của từng nhân viên mà thúc đẩy động lực làm việc của người lao động.
Các học thuyết về động lực làm việc 2. Các lý thuyết liên quan đến động lực làm việc Học thuyết nhu cầu của Maslow Trong bài viết A theory of human motivation (1943), Abraham Maslow công bố học thuyết về nhu cầu của con người. Ông nhận định mỗi người gồm 5 nhóm nhu cầu, thứ tự từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh lý. Nhu cầu an toàn.
Nhu cầu xã hội. Nhu cầu được tôn trọng. Nhu cầu tự thể hiện. Các nhóm nhu cầu phản ánh mức độ cơ bản đối với sự tồn tại cũng như phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội.
Lý thuyết của Maslow có các luận điểm cơ bản như sau: Luận điểm thứ nhất: Mỗi người đều có nhiều nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao. Luận điểm thứ hai: Động lực hành động chỉ được duy trì khi nhu cầu của con người chưa được thỏa mãn. Con người làm một việc gì đó vì họ có nhu cầu tương ứng cần được đáp ứng. Nhu cầu chính là nguồn gốc hành động của mỗi người.
Để khuyến khích người lao động làm việc, ban quản lý có thể tiến hành xem xét nhu cầu của họ mà có các công cụ, biện pháp tác động, kích thích, thỏa mãn nhu cầu đó của họ. Khi các nhu cầu được thỏa mãn, con người sẽ lại tìm đến những nhu cầu ở mức cao hơn, đòi hỏi sự thỏa mãn cao hơn, động lực làm việc lại theo đó mà được nâng cao hơn. Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Herzberg công bố học thuyết hai nhân tố bao gồm: nhóm nhân tố duy trì và nhóm nhân tố thúc đẩy. 7 Nhóm yếu tố thúc đẩy: đó là các nhân tố tạo nên sự thoả mãn, sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản thân công việc của người lao động, trách nhiệm và chức năng lao động sự thăng tiến.
Nếu không được thoả mãn các yếu tố này thì sẽ dẫn đến bất mãn, nếu chúng được thoả mãn thì động lực làm việc được thúc đẩy. Nhóm yếu tố duy trì: đó là các yếu tố thuộc về môi trường làm việc của người lao động, các chính sách, tiền lương, sự hướng dẫn công việc, các quan hệ với con người, các điều kiện làm việc. Thỏa mãn được nhóm yếu tố trên sẽ giúp nhà quản lý duy trì động lực làm việc của nhân viên. Các yếu tố động viên nhân viên của Herzberg 2.
Các mô hình nghiên cứu thực nghiệm liên quan Mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1974) Hackman và Oldham (1974) cho biết cách thiết kế công việc sẽ tạo được ở người lao động động lực làm việc. Công việc cần yêu cầu nhiều kỹ năng, kinh nghiệm ở người lao động, đồng thời tiến hành trao quyền cho họ, như vậy sẽ gia tăng tinh thần trách nhiệm của họ. Công việc sau khi được giao thì các cấp quản lý phải luôn duy trì phản hồi thông tin, đánh giá công việc. Qua đó, người lao động càng mau chóng hiểu rõ, nắm bắt được công việc mình đang làm để tạo ra nhiều hiệu quả công việc hơn nữa.
Mô hình tạo động lực của Kovach (1987) Kovach công bố mô hình tạo động lực có 10 nhân tố bao gồm: Sự giúp đỡ của cấp trên; Sự tự chủ trong công việc; Điều kiện làm việc tốt; Sự thừa nhận đầy đủ trong công việc; Công việc lâu dài; Công việc thú vị; Sự gắn bó của cấp trên với nhân viên; Sự thăng tiến và phát triển nghề nghiệp; Tiền lương cao; Xử lý kỷ luật khéo léo và tế 8 nhị. Mô hình mười yếu tố này được áp dụng trong nhiều đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên trong nhiều công ty, nhiều ngành nghề khác nhau. Tổng quan các công trình nghiên cứu động lực làm việc của nhân viên 2. Lược khảo các công trình nghiên cứu nước ngoài Dựa trên cơ sở khoa học thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) và chỉ số mô tả công việc (JDJ) của Smith, Boeve (2007) thực hiện nghiên cứu về động lực làm việc cho các nhân viên khoa đào tạo trợ lý bác sỹ ở các trường Y tại Mỹ.
Tác giả cho biết có hai nhóm nhân tố tác động đến động lực làm việc: nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm sự hỗ trợ của cấp trên, lương và mối quan hệ với đồng nghiệp và nhóm nhân tố nội thuộc về cơ hội đào tạo và phát triển, bản chất công việc. Đề tài của Brooks (2007) thu thập dữ liệu từ 181 người lao động Mỹ với 53 biến quan sát. Bằng cơ sở thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959), tác giả cho biết các nhân tố như: đóng góp vào tổ chức, cấp trên, đào tạo, đánh giá hiệu quả công việc có tác động đến mức độ hài lòng của nhân viên. Teck-Hong và Waheed (2011) tiến hành khảo sát, nghiên cứu động lực làm việc của nhân viên bán hàng tại Malaysia.
Kết quả của nghiên cứu cho biết sự công nhận, điều kiện làm việc là nhân tố quan trọng nhất. Các nhân tố duy trì động lực làm việc của người bán hàng có hiệu quả hơn các nhân tố động viên. Kết quả nghiên cứu của Rasheed (2010) kết luận rằng phúc lợi là một nhân tố quan trọng để phát triển động lực, bên cạnh đó còn các nhân tố quan trọng khác như: thông tin phản hồi, đào tạo, tham gia vào việc ra quyết định và trao quyền, môi trường làm việc, công việc, công nhận và khen thưởng, phát triển sự nghiệp. Tác giả cho biết người quản lý đóng vai trò rất quan trọng để tạo động lực cho nhân viên làm việc.
Ngoài ra, nhân viên luôn mong muốn những việc họ làm được ghi nhận, tưởng thưởng xứng đáng từ người quản lý. Từ việc áp dụng học thuyết của Herzberg, Barzoki (2012) nghiên cứu rằng chính sách của công ty, tiền lương và thưởng, cuộc sống cá nhân, các nhân tố an toàn nghề nghiệp, điều kiện làm việc, mối quan hệ với cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp đều ảnh hưởng hiệu quả lên động lực làm việc của người lao động. 9 Thông qua nghiên cứu các trường hợp người lao động làm việc tại Seremban, Hong (2013) công bố các nhân tố ảnh hưởng bao gồm tiền lương, công bằng và thăng tiến, công việc, môi trường làm việc. Tác giả kết luận nhân tố môi trường làm việc, tiền lương, công việc ảnh hưởng cùng chiều lên mức độ hài lòng trong công việc của người lao động.
Masood và cộng sự (2014), thông qua khảo sát 150 nhân viên làm việc ở thành phố Bahawalpur (Pakistan), cho biết các nhân tố: tiền lương - phúc lợi, đào tạo phát triển, điều kiện làm việc, an toàn công việc và trao quyền cho nhân viên ảnh hưởng cùng chiều đến sự hài lòng của nhân viên. Taguchi (2015) nghiên cứu về người lao động ở Nhật Bản. Kết quả cho biết các nhân tố tạo động lực bao gồm: các mối quan hệ con người, thiết lập công việc, đánh giá nhân viên, phát triển, điều kiện làm việc, thu nhập, nơi làm việc, loại công việc thực hiện. Tác giả đi đến kết luận rằng các nhân tố đều tác động cùng chiều đến động lực làm việc.
Lencho (2020) thực hiện đề tài nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên tại bệnh viện Fiche General. Tác giả khảo sát tổng cộng 179 nhân viên và kết luận rằng: sự công nhận, môi trường làm việc, lợi ích và trao quyền có ảnh hưởng cùng chiều đối với hiệu quả công việc của nhân viên. Trong đó, nhân tố trao quyền có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến động lực làm việc của người lao động. Lược khảo các công trình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu Bùi Thị Minh Thu và Lê Nguyễn Đoan Khôi (2014) nghiên cứu động lực làm việc của nhân viên trực tiếp sản xuất của Lilama.
Từ 215 phiếu khảo sát hợp lệ, tác giả tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo và phân tích nhân tố.