Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn phát triển kinh tế tại Việt Nam chỉ ra rằng nông nghiệp và nông thôn vẫn giữ vị trí chiến lược khi nông dân chiếm khoảng 80% dân số và 70% lực lượng lao động cả nước sinh sống tại khu vực này. Tỉnh Thái Bình là địa bàn thuần nông điển hình thuộc vùng đồng bằng sông Hồng với tổng diện tích tự nhiên 154.601 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 62,7%, cùng quy mô dân số hơn 1,86 triệu người tạo nên mật độ cư trú cao tới 1.200 người/km2. Mặc dù địa phương đã đạt năng suất thâm canh lúa nước trên 12 tấn/ha/năm và duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng từ 3,19% năm 2000 lên 12,02% vào năm 2010, tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa vẫn đối mặt với nút thắt lớn về chất lượng nguồn nhân lực.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là nghịch lý nguồn lao động dồi dào về số lượng nhưng khan hiếm trầm trọng lực lượng có trình độ kỹ thuật cao. Tại khu vực nông nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề mới chỉ đạt khoảng 7% đến 8%, trong khi tỷ trọng lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 62,3% tổng lực lượng lao động xã hội. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển nhân lực đồng bộ nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2020. Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để địa phương giải quyết bài toán việc làm cho hơn 532.691 hộ dân, phát huy hiệu quả quỹ đất canh tác bình quân 1,4 sào/khẩu và hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với tư cách là chủ thể sáng tạo, lực lượng sản xuất hàng đầu quyết định sự vận động của xã hội. Công trình tích hợp lý thuyết vốn con người (Human Capital) do Ngân hàng Thế giới phát triển, tiếp cận nguồn nhân lực dưới góc độ tổng thể vốn tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực thể chất có thể huy động vào sản xuất. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa bao gồm: nguồn nhân lực (cấu thành bởi thể lực, trí lực và tâm lực), công nghiệp hóa - hiện đại hóa, và công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội VIII, IX, X và XI, phát triển nguồn lực con người là yếu tố cơ bản bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được xác định là cuộc chuyển đổi căn bản từ phương thức thủ công sang cơ giới hóa, tự động hóa, gắn kết sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và mạng lưới dịch vụ hiện đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp chặt chẽ với các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh và nghiên cứu văn bản. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, các báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và số liệu điều tra lao động việc làm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong mốc thời gian từ năm 2000 đến năm 2010.

Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn bộ 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố với 286 xã, phường, thị trấn, đại diện cho hơn 1,28 triệu người trong độ tuổi lao động. Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu toàn bộ theo địa giới hành chính được áp dụng nhằm phản ánh chính xác cấu trúc việc làm của 532.691 hộ gia đình. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ tính chất đặc thù của chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, đòi hỏi phải đánh giá thực trạng trên cơ sở các số liệu định lượng khách quan kết hợp phân tích định tính về mặt chính sách xã hội, từ đó chỉ huy động nguồn lực phù hợp với đặc thù kinh tế thuần nông.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu dân số và độ tuổi lao động của tỉnh mang đặc trưng trẻ hóa nhưng tốc độ chuyển dịch ngành nghề còn chậm. Nhóm lao động từ 15 đến 34 tuổi chiếm 46,07% tổng lực lượng lao động, nhóm 35 đến 54 tuổi chiếm 33,38%. Tuy nhiên, tỷ trọng lao động nông nghiệp chỉ giảm từ 66,6% năm 2005 xuống 62,3% năm 2010, trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng mới chiếm 22% và dịch vụ đạt 15,7%.

Thứ hai, mặt bằng học vấn phổ thông có bước tiến vượt bậc nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật còn nhiều bất cập. Tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông tăng nhanh từ 27,86% năm 2000 lên 45,16% năm 2005 và đạt 49,85% vào năm 2010. Ngược lại, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề trong nông nghiệp vẫn ở mức trên 92%.

Thứ ba, sự phát triển của hệ thống hạ tầng và khu cụm công nghiệp bước đầu tạo lực hút việc làm. Toàn tỉnh đã quy hoạch 7 khu công nghiệp, 15 cụm công nghiệp, thu hút 283 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 50.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 86.000 lao động. Đồng thời, 219 làng nghề đạt chuẩn đã giải quyết việc làm thường xuyên cho 175.000 thợ thủ công, với mức thu nhập từ 700.000 đồng/tháng trở lên.

Thứ tư, chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, phường còn yếu kém. Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 9%, trung cấp chiếm 39%, trong khi có tới 48,7% chưa qua đào tạo chuyên môn và 55% chưa được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố 90% dân số ở khu vực nông thôn và tỷ lệ lao động tốt nghiệp cấp hai trở lên đạt 81,1% (vượt trội so với mức 73,2% của vùng đồng bằng sông Hồng) cho thấy Thái Bình có nền tảng dân trí rất thuận lợi. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất khiến năng suất lao động chưa tương xứng là tâm lý sản xuất tiểu nông mang tính tự cấp tự túc và sự cố kết làng xã khép kín.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng mô tả xu hướng chuyển dịch cơ cấu 3 nhóm ngành giai đoạn 2000 - 2010, kết hợp bảng ma trận đối sánh giữa tỷ lệ tốt nghiệp văn hóa (gần 50% đạt trung học phổ thông) với tỷ lệ qua đào tạo kỹ thuật (dưới 8%). Sự chênh lệch sâu sắc này lý giải vì sao lao động nông thôn khi chuyển sang các khu công nghiệp chủ yếu đảm nhận công đoạn gia công dệt may, cơ khí đơn giản, thiếu hẳn lực lượng công nhân kỹ thuật bậc cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình cần ban hành đề án đổi mới căn bản mạng lưới đào tạo nghề gắn với nhu cầu tái cơ cấu nông nghiệp. Mục tiêu đến năm 2015 nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề lên 35% và đạt 50% vào năm 2020. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo mở rộng quy mô 13 trường đại học, cao đẳng và 60% trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn nhằm đào tạo kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao.

Thứ hai, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư có chọn lọc, ưu tiên công nghiệp chế biến nông sản và cơ khí phục vụ nông nghiệp. Phấn đấu giai đoạn 2012 - 2015 thu hút thêm 30.000 tỷ đồng vốn đầu tư, mở rộng diện tích khu công nghiệp Phúc Khánh và Tiền Hải để tạo mới 100.000 việc làm phi nông nghiệp.

Thứ ba, Sở Nội vụ triển khai chương trình chuẩn hóa 100% cán bộ công chức cấp xã, phường. Đến năm 2015, bảo đảm tối thiểu 70% cán bộ cơ sở đạt trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên và 90% hoàn thành chương trình bồi dưỡng quản lý nhà nước, khắc phục triệt để tỷ lệ 55% cán bộ chưa qua đào tạo quản lý.

Thứ tư, Sở Y tế phối hợp với các đoàn thể đẩy mạnh chương trình nâng cao thể lực và chất lượng dân số. Duy trì tỷ lệ 100% thôn làng có nhân viên y tế, tăng tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ từ 80% lên 95%, đồng thời giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15% vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp tại tỉnh Thái Bình và các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng có thể sử dụng số liệu luận văn làm căn cứ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đào tạo nghề nông thôn.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế phát triển và Quản lý công tìm thấy tài liệu tham khảo giá trị về mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc giải phóng năng lực lao động.

Thứ ba, ban giám hiệu các trường trung cấp nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên và cán bộ khuyến nông sử dụng các chỉ tiêu điều tra để đổi mới giáo trình, thiết kế chương trình đào tạo bám sát thực tiễn sản xuất.

Thứ tư, các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, dệt may và tiểu thủ công nghiệp tại các khu, cụm công nghiệp nông thôn tham khảo để xây dựng chiến lược tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng lớn nhất của nguồn nhân lực nông nghiệp tỉnh Thái Bình là gì? Nghịch lý lớn nhất là lao động dồi dào nhưng chất lượng thấp. Mặc dù tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 49,85% vào năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo nghề chỉ chiếm khoảng 7% đến 8%, dẫn đến năng suất lao động và khả năng tiếp thu công nghệ mới còn hạn chế.

Cơ cấu trình độ học vấn của lao động Thái Bình có ưu thế gì so với cả nước? Lao động Thái Bình có nền tảng văn hóa phổ thông rất tốt. Tỷ lệ lao động có trình độ từ trung học cơ sở trở lên đạt 81,1%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân 73,2% của vùng đồng bằng sông Hồng và mức 45,77% của cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ cập kỹ thuật.

Các làng nghề đóng vai trò như thế nào trong giải quyết việc làm tại địa phương? Toàn tỉnh có 219 làng nghề đạt chuẩn, thu hút thường xuyên 175.000 lao động nông thôn lúc nông nhàn. Sự phát triển của các nghề móc sợi, thêu đính hạt cườm, tăm hương đã mang lại thu nhập ổn định từ 700.000 đồng/tháng trở lên, góp phần đưa tỷ trọng lao động công nghiệp lên 22,5% năm 2011.

Đội ngũ cán bộ công chức cơ sở tại Thái Bình đối mặt với hạn chế nào? Hạn chế lớn nhất nằm ở kỹ năng quản trị công khi có tới 55% cán bộ xã phường chưa qua các lớp đào tạo quản lý nhà nước và 48,7% chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực thực thi chính sách ở cơ sở.

Giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao chất lượng nhân lực nông thôn? Giải pháp đột phá là gắn kết chặt chẽ đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại 7 khu công nghiệp và 15 cụm công nghiệp. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 50% vào năm 2020 nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với kinh tế tri thức.
  • Công trình phân tích bức tranh thực trạng nhân lực Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010, chỉ rõ thế mạnh quy mô trẻ với 46,07% trong độ tuổi 15 - 34 song tỷ trọng lao động nông nghiệp còn cao ở mức 62,3%.
  • Đánh giá toàn diện các yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực của lao động địa phương, chỉ ra khoảng trống về kỹ năng chuyên môn kỹ thuật khi trên 92% chưa qua đào tạo nghề.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với lộ trình cụ thể từ năm 2012 đến năm 2020 nhằm phát triển hạ tầng, công nghiệp làng nghề và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục.
  • Khẳng định nguồn nhân lực là động lực nội sinh then chốt giúp tỉnh Thái Bình phát huy giá trị 283 dự án đầu tư và sớm hoàn thành mục tiêu trở thành tỉnh nông thôn mới kiểu mẫu.

Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác các luận điểm khoa học cùng hệ thống chỉ số thống kê trong luận văn để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực địa phương ngay trong giai đoạn hiện nay.