Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA 1. Nguồn nhân l c và các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân l c 1. Một số quan niệm về nguồn nhân lực Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'' của sự phát triển kinh tế. Việc chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng và bền vững của mọi quốc gia.
Bởi vậy, phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực và là một mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, sự phát triển con người, sự phát triển NNL được Liên hợp quốc thừa nhận là vấn đề trung tâm và là thước đo để đánh giá, xếp loại mức độ phát triển của mỗi quốc gia. Đối với bất cứ quốc gia nào việc xác định một cách đúng đắn và huy động có hiệu quả các nguồn lực có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới. Từ đó, đã có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.
Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Ở đây nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguồn lực con người cho sự phát triển; do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động; nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ.
Về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt số lượng và chất lượng. Như vậy theo quan điểm này, có một số người được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động (đó là những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học).
Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một nghành hay một vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội” [1, tr. Ở đây nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của một bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số tác giả hiểu nguồn nhân lực theo nghĩa rộng.
“Nguồn nhân lực (Human Rersources) là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể” [42, tr. Với quan điểm này, nguồn nhân lực là một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất, nguồn tài chính, nguồn trí tuệ (chất xám). Những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu tạo thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn lực phát triển là cả một hệ thống, mỗi một nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực con người nằm ở trung tâm hệ thống.
Các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, khoa học công nghệ nếu không được con người phát hiện khai thác thì nó chỉ tồn tại ở dạng tiềm tàng mà thôi. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn. Chính con người thông qua hoạt động của mình đã làm các nguồn lực khác phát huy giá trị, sử dụng nó để phát triển xã hội. Do đó, nguồn lực con người được coi là thứ tài nguyên quý giá nhất, một nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực.
Vì vậy, thực chất chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là chiến lược phát triển con người và vì con người. Một số tác giả hiểu nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp. “Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khă năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp” [42, tr. Với quan điểm này thì lực lượng lao động Việt Nam bao gồm: những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm; những ngươi ngoài 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp, nghĩa là không bao gồm những người trong độ tuổi lo động nhưng đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc (Bộ Luật Lao động nước ta quy định độ tuổi lao động là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ).
Tiếp thu yếu tố hợp lý trong các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, trình độ tri thức, phẩm chất, vị thế xã hội tạo nên năng lực của con người, năng lực đó được sử dụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nói tới nguồn lực con người là nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo, tham gia cải tạo tự nhiên và đổi xã hội. Nguồn nhân lực cần được xem xét và nghiên cứu theo số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm.
Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định vì đến lúc nhất định thì con người mới phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động. Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế-xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó theo những mục tiêu nhất định.
Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc. Tất cả các yếu tố đó đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá theo một chỉ tiêu tổng hợp là văn hoá lao động. Ngoài ra, khi xem xét nguồn nhân lực thì cần chú ý cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề. Số lượng và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của quốc gia quyết định. Để hiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực, chúng ta cần phân tích một số khái niệm liên quan là đội ngũ lao động, vốn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực. Đội ngũ lao động là những người lao động trong nguồn nhân lực đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế tích cực). Đây là bộ phận quan trọng nhất đối với nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế - xã hội nói riêng.
Vốn nhân lực là tiềm năng về sức khỏe, kiến thức của các cá nhân. Vốn là giá trị mang lại lợi ích kinh tế - xã hội. Không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành vốn nhân lực được, bởi lẽ cũng giống như các nguồn lực khác để có thể đem lại lợi ích thì bản thân vốn nhân lực phải có giá trị. Giá trị vốn nhân lực ở đây chính là giá trị sức lao động.
Giá trị này cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ và khả năng nghề nghiệp của mỗi người. Nói một cách khác, để trở thành vốn nhân lực thì con người phải có sức khỏe tốt, phải được giáo dục, được đào tạo, phải có kiến thức chuyên môn ngày càng cao.