Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE PHÁT TRIEN NGUON NHÂN LUC CHAT LƯỢNG CAO TRONG LĨNH VUC GIAO DỤC - ĐÀO TẠO 1. Một số vấn đề chung về phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực 1. Các khải niệm cơ bản * Nhán lực: Theo từ điển Tiếng Việt, nhân lực là sức của con người: bao gồm sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực) [69].
Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực; ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, trí lực giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và tâm lực cũng đóng vai trò quan trọng như điều kiện cần thiết không thê thiếu đối với sự phát triển của nguồn nhân lực. * Nguồn nhân lực: Khái niệm nguồn nhân lực (human resources), vốn con người (human capital) xuất hiện ở Hoa Kỳ vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX bởi nhà kinh tế học người Mỹ - Theodor schoultz và sau đó được thịnh hành trên thế giới. Khái niệm nguồn nhân lực có mặt trong hầu hết các lý thuyết kinh tế học, được coi là một thành tố cơ bản của nền sản xuất xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, khái nệm nguồn nhân lực cũng dan được bồ sung và hoàn thiện hơn.
Theo thuật ngữ Pháp (1977-1985, nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm (những người có khả năng lao động nhưng không mong muốn có việc làm thì không được tính vào nguồn nhân lực). 10 Theo Begg, Fischer và Dornbusch - các nhà kinh tế học người Anh, trong cuốn sách Kinh tế do Begg làm chủ biên, xuất bản năm 2008 có nêu rõ: khác voi nguồn lực vật chất khác, nguôn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng dem lại thu nhập trong tương lai [83]. Theo khái niệm này, thì nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai, cũng giống như nguồn lực vật chất. Điểm khác với nguồn lực vật chất khác là: nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, hoạt động xã hội, có các phẩm chất tâm ly như động cơ, thai độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống) có khả năng tích lũy kinh nghiệm, nghề nghiệp và vốn sống.
Theo tô chức lao động quốc tế: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Khái niệm này dù được bổ sung so với khái niệm của Thuật ngữ Pháp, nhưng chưa chỉ rõ những yếu tố cau thành nên nguồn nhân lực. Liên hợp quốc cho rằng nguồn nhân lực con người là tat cả những kiến thức, kỹ năng, năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của dat nước [50]. Nguồn nhân lực là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người.
Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành nguồn vốn con người. Khái niệm này nhắn mạnh đến vai trò quyết định của con người đến sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ sau công cuộc đôi mới đất nước năm 1986. Giáo sư viện sĩ Phạm Minh Hạc đưa khái niệm: nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gém cả thé chất và tinh than, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức 11 của người lao động.
Nó là tong thé nguồn nhân lực hiện có thực té và tiềm năng, được chuẩn bị sẵn sàng dé tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay của một địa phương nào đó [27], tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu chuyên đổi cơ cau lao động, cơ cau kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực bao gôm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động (có tính thêm cả trẻ em và người lao động cao tuổi). Cách định nghĩa này giúp cho việc nghiên cứu sự đóng góp và nhu cầu của các đối tượng xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội được dễ dàng hơn. Nhìn chung, có rất nhiều cách định nghĩa nguồn nhân lực, tùy thuộc vào cách tiếp cận nghiên cứu của từng lĩnh vực, của từng nhà kinh tế.
Tuy nhiên những quan niệm này đều thông nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Có thê chia khái niệm nguồn nhân lực theo hai cách hiểu sau đây: - Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là tổng thé tiềm năng lao động của con người của một quốc gia, hoặc vùng lãnh thổ: bao gồm cả số lượng và chất lượng. - Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là nguồn lao động, bao gồm tổng số người đang làm việc, lao động dự phòng; tức là toàn bộ các cá nhân cụ thé tham gia vào qua trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thé luc, trí lực, tam lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Trong luận văn này, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng theo quan niệm: “là tổng thé số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về thé lực, trí lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiễn 12 bộ xã hội.” Theo đó, khi nói đến nguồn nhân lực thì không đơn giản nói đến số lượng mà còn bao gồm chất lượng và cơ câu của bộ phận nhân lực ấy.
Số lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua các tiêu chí về quy mô và tốc độ phát triển của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực thê hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thé lực, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn tay nghề, tác phong nghé nghiệp; và cơ cấu nguồn nhân lực được thé hiện qua các tiêu chí về tuổi tác, giới tính, thiên hướng trong lĩnh vực nghé, trình độ văn hóa va chuyên môn kỹ thuật. Quan tâm đến nguồn nhân lực cả ba mặt số lượng, chất lượng và cơ cầu cũng chính là quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực. * Phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguôn nhân lực là quá trình làm tăng số lượng và nâng cao chất lượng nguôn nhân lực nhằm tạo ra quy mô và cơ cầu ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Nhưng hiện nay, van đề nổi cộm giữa của mọi quốc gia là chất lượng dân số. Vi vậy phát triển nguồn nhân lực những năm gần đây chủ yếu nhăm vào chất lượng nguồn nhân lực, dẫn tới hướng quan tâm hiện nay là quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) và một số nhà kinh tế học sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp: đó là sự phát triển kỹ năng lao động và sự đáp ung với yêu cau của việc làm [61].
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) lại cho rang: phát triển nguồn nhân lực không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gom cả van dé đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực đó của con người đề tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân [61]. 13 Liên hợp quốc sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hon bao gồm giáo duc, đào tạo nghệ nghiệp và sử dụng tiềm năng con người, nhằm thúc day phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Quan niệm này đã nhắn mạnh khía cạnh xã hội của vấn đề: nguồn nhân lực vừa là một yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tế và là mục tiêu của sự phát triển. Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: phá triển nguồn nhân lực là qua trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực; dong thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực của một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động, có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả. Nói một cách cu thé hơn, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nham nang cao va khuyến khích đóng góp tốt hon kiến thức và thé lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất; kiến thức được nâng lên nhờ quá trình dao tạo, tiếp thu và tích lũy kinh nghiệm, còn thé lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thé và chăm sóc y tế. Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đảo tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, đảo tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thé lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động, thông qua việc tuyển, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc(phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách hợp lý) môi trường văn hóa — xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người để họ mang hết sức mình hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Phân loại nguồn nhân lực Tùy theo cách tiếp cận, người ta phân loại nguồn nhân lực theo những cách khác nhau.
Dưới đây là những cách phân loại phô biến: * Phân loại theo trình độ 14 Căn cứ theo trình độ nghề nghiệp, nguồn nhân lực được phân thành nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật và nhân lực không có trình độ chuyên môn kỹ thuật.