phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục gồm có 3 nội dung chủ yếu sau: Chƣơng 1- Những vấn đề lý luận chung về nhân lực và công tác quy hoạch nhân lực. Chƣơng 2- Thực trạng phát triển nhân lực tỉnh Lào Cai trong giai đoạn vừa qua Chƣơng 3- Một số giải pháp nhằm quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Lào Cai đến năm 2020. 10 z CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN LỰC VÀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH NHÂN LỰC 1. Khái quát về nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều cách hiểu về nguồn nhân lực.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là toàn bộ những ngƣời lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình lao động và các thế hệ nối tiếp phục vụ cho xã hội. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực với tƣ cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khă năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tƣơng đƣơng với nguồn lao động. Nhƣ vậy có thể hiểu nguồn nhân lực là bao gồm tất cả các cá nhân, những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực đƣợc xem xét dƣới góc độ số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng nguồn nhân lực đƣợc hiểu thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng nhanh thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngƣợc lại.
Khi tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con ngƣời đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hƣớng nó tới mục tiêu nhất định. Vì vậy nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lƣợng lao động đã có và sẽ có mà còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc,… tất cả các yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lƣợng nguồn nhân lực và đƣợc đánh giá là một chỉ tiêu tổng hợp, là văn hoá lao động. Mặt khác khi xem xét nguồn nhân lực, cơ cấu lao động - bao gồm cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu quan trọng. 11 z Số lƣợng và đặc biệt là chất lƣợng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những ngƣời lao động phải đƣợc đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng. Một quốc gia có lực lƣợng lao động đông đảo, nhƣng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng; cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lƣợng lao động dồi dào đó không những không trở thành nguồn lực để phát triển mà có thể còn trở thành gánh nặng cho toàn xã hội, cản trở sự phát triển. Ngày nay, khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng đƣợc thừa nhận nhƣ một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trƣởng thì một trong những yêu cầu để hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng nhƣ thế giới là phải có đƣợc một nguồn nhân lực có đủ khả năng đáp ứng đƣợc những yêu cầu của trình độ phát triển của khu vực, của thế giới, của thời đại.2 Phát triển nguồn nhân lực: Khái niệm, nội dung và tiêu chí đánh giá * Phát triển nguồn nhân lực: là sự biến đổi về số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực biểu hiện thông qua về các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc, nhờ vậy mà phát triển đƣợc năng lực của họ, ổn định đƣợc công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế và xã hội của họ và cuối cùng là đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển cả về quy mô, cơ cấu số lƣợng và chất lƣợng.
Thực chất phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng về số lƣợng và nâng cao về chất lƣợng nguồn nhân lực nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực luôn gắn bó với nhau 12 z và ảnh hƣởng lẫn nhau. Về mặt số lƣợng là tăng nguồn lao động (con ngƣời). Chất lƣợng bao gồm sức khoẻ, trình độ chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân.
Khi nói đến phát triển nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là nói đến nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Có thể khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình biến đổi của nguồn nhân lực nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con ngƣời; là phát triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lƣợng này lên trình độ chất lƣợng khác cao hơn, toàn diện hơn. Từ khái niệm trên cho thấy phát triển nguồn nhân lực bao gồm 3 nội dung cơ bản đó là: - Phát triển quy mô và cơ cấu thích hợp; - Đào tạo nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực đáp ứng với yêu cầu CNH, HĐH; - Quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. * Các tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là bộ phận chủ yếu của dân số, lao động của con ngƣời là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, con ngƣời là động lực cơ bản quyết định sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Do đó, để đánh giá quá trình phát triển nguồn nhân lực ta cần đề cập tới các tiêu chí sau: Thứ nhất, tiêu chí về quy mô, tốc độ tăng dân số: Quy mô dân số đƣợc biểu thị khái quát tổng số dân của một vùng, một nƣớc, một khu vực vào những thời điểm xác định. Những thông tin về quy mô dân số hết sức cần thiết trong nghiên cứu phân tích đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ hoạch địh chiến lƣợc phát triển ở phạm vi tỉnh, thành phố vùng lãnh thổ cũng nhƣ cả nƣớc. 13 z Quy mô dân số thích hợp là phải có một số lƣợng dân phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Các nhà dân số học thế giới cho rằng, một cơ cấu thích hợp đảm bảo cho dân số ổn định là: + Tỷ lệ trẻ em dƣới tuổi lao động là: 26-28%; + Tỷ lệ ngƣời trong tuổi lao động là: 60-64%; + Tỷ lệ ngƣời già trên tuổi lao động là: 10-12%.
Để có cơ cấu dân số ổn định nhƣ vậy tổng số suất sinh (TFR) phải đạt và giữ ở mức thay thế. Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển nguồn nhân lực. Khi dân số tăng lên thì lực lƣợng lao động cũng tăng với tốc độ thƣờng cao hơn tốc độ tăng dân số. Nguồn tài nguyên nhƣ đất đai, mặt nƣớc… lại có hạn nên số lao động trên một đơn vị diện tích đất đai ngày một tăng lên, tổng sản phẩm tăng nhƣng sản phẩm bình quân đầu ngƣời sẽ giảm nếu không có sự phát triển nhanh hơn về kinh tế.
Thứ hai, tiêu chí về cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính, theo khu vực thành thị, nông thôn, dân số hoạt động kinh tế và không hoạt động kinh tế: Cơ cấu dân số theo độ tuổi sẽ có tác động đến số lƣợng nguồn nhân lực. Cơ cấu tuổi của dân số biến đổi theo hƣớng trẻ hoá do tỷ lệ sinh đẻ cao sẽ dẫn đến tăng nhanh nguồn nhân lực 15 năm sau đó. Ngƣợc lại cơ cấu tuổi của dân số biến đổi theo hƣớng lão hoá, nguồn nhân lực sẽ giảm dần. Do đó điều tiết quá trình dân số hợp lý sẽ đảm bảo phát triển nguồn nhân lực hợp lý.
Thứ ba, nhóm tiêu chí về kinh tế - xã hội: Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lƣợng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội, bởi lẽ chất lƣợng nguồn nhân lực cao sẽ tạo 14 z ra động lực mạnh mẽ hơn với tƣ cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. Thông qua các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực và các yếu tố cấu thành của chúng có thể xác định đƣợc hệ thống các nhân tố tác động đến chất lƣợng nguồn nhân lực. - Chỉ số trình độ dân trí: khi tính HDI, trình độ dân trí đƣợc tính bằng 2 chỉ tiêu: tỷ lệ ngƣời biết chữ và số năm đi học bình quân.
Tuy nhiên, để phân tích đƣợc đầy đủ hơn về quan hệ của nguồn nhân lực với trình độ dân trí, cần xem xét thêm các chỉ tiêu cụ thể sau: Tỷ lệ biết chữ hoặc trình độ học vấn theo nhóm tuổi, giới tính; tình hình giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng đại học và đào tạo công nhân kỹ thuật. Trình độ học vấn của dân số/nguồn nhân lực là sự hiểu biết của ngƣời lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội. Trong chừng mực nhất định, trình độ học vấn của dân số biểu hiện mặt bằng dân trí của quốc gia đó. Trình độ học vấn là nhân tố rất quan trọng có ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng nguồn nhân lực và tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội.