mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, bảng biểu, sơ đồ; Luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cở sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Điện lực Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cho Điện lực Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp * Nguồn nhân lực Có thể nói, khái niệm NNL hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nƣớc ta, nhƣng cho đến nay, quan điểm về vấn đề này vẫn chƣa thống nhất. Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà ngƣời ta có những nhận thức khác nhau về NNL.
Có thể nêu lên một số quan niệm nhƣ sau: Theo giáo trình Nguồn nhân lực của NXB Trƣờng Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên (2011) thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động” [13]. Khái niệm này chỉ NNL với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh thì “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng, chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [1]. * Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo giáo trình Quản trị nhân lực của PGS. Lê Thanh Hà (2009), NXB Lao động - Xã hội thì: “Nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn thể CBCNV lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi ngƣời, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức.
Sức mạnh của tập 5 thể lao động vận dụng vào việc đạt đƣợc những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt đƣợc những mục tiêu riêng của mỗi thành viên” [11]. Nhƣ vậy, xem xét dƣới các góc độ khác nhau có thể có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, những khái niệm trên đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng; không chỉ bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Trong mỗi doanh nghiệp, NNL là nguồn lực quan trọng không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dƣỡng NNL của mình để đảm bảo NNL đủ mạnh cả về chất và lƣợng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà trong cả tƣơng lai. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động Xã hội thì: “Chất lƣợng NNL là khái niệm tổng hợp về những ngƣời thuộc NNL đƣợc thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của ngƣời lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trƣờng làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của ngƣời lao động” [20]. Vũ Thị Ngọc Phùng thì: “Chất lƣợng NNL đƣợc đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của ngƣời lao động cũng nhƣ sức khỏe của họ” [13]. Theo quan điểm này thì chất lƣợng NNL đƣợc đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực).
Các tiêu chí này đƣợc định lƣợng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lƣờng đƣợc tƣơng đối dễ dàng. Mai Quốc Chánh thì: “Chất lƣợng NNL đƣợc xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất” [1]. Nhƣ vậy, việc đánh giá chất lƣợng NNL đƣợc tác giả “xem xét trên các mặt” chứ không coi đó là các tiêu chí cần thiết và bắt buộc phải có, do đó, có thể có mặt “đƣợc xem xét”, có mặt “chƣa đƣợc xem xét” và có thể có mặt “không đƣợc xem xét” đến. Có thể thấy “chất lƣợng NNL” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá NNL.
Chất lƣợng NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL, bao gồm: Trí lực: là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con ngƣời. Trí tuệ đƣợc xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con ngƣời bởi tất cả những gì thúc đẩy con ngƣời hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con ngƣời. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động.
Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho NNL hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Kỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển NNL ở xã hội công nghiệp. Thể lực: là trạng thái sức khoẻ của con ngƣời, là điều kiện đảm bảo cho con ngƣời phát triển, trƣởng thành một cách bình thƣờng, hoặc có thể đáp ứng 7 đƣợc những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động.
Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL, song, sức mạnh trí tuệ của con ngƣời chỉ có thể phát huy đƣợc lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lƣợng NNL, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con ngƣời. Tâm lực: còn gọi là phẩm chất tâm lý – xã hội, chính là tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động nhƣ: tác phong công nghiệp (khẩn trƣơng, đúng giờ…), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lƣợng NNL chính là sự tăng cƣờng sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lƣợng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lƣợng này có thể hoàn thành đƣợc nhiệm vụ phát triển KTXH trong một giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức.
Do đó, chất lƣợng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển KTXH. Thông qua chất lƣợng NNL thể hiện rõ trình độ phát triển KTXH của một quốc gia, chất lƣợng cuộc sống của dân cƣ hay mức độ văn minh của một xã hội. Nâng cao chất lƣợng NNL là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc (phƣơng tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý…) môi trƣờng văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của ngƣời lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao. Việc quản lý và sử dụng đúng nguồn nhân lực sau khi đã đƣợc đào tạo phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định đến thành công của doanh nghiệp.
8 Từ những luận điểm trên có thể hiểu rằng “Nâng cao chất lƣợng NNL trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của ngƣời lao động trên các phƣơng diện: thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của doanh nghiệp”. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Đặc thù nhân lực trong ngành điện Để vƣợt qua thách thức trƣớc thời kỳ đẩy mạnh cải cách ngành Điện, cạnh tranh và hội nhập, một vấn đề có ý nghĩa quyết định và mang tính chiến lƣợc lâu dài đối với EVN là cần phải tổ chức tốt, tăng cƣờng và sớm hoàn thiện hệ thống quản lý NNL để phát huy nhanh nhất và lâu dài, hiệu quả của nguồn lực quan trọng bậc nhất này. Với số lƣợng lao động hiện đang làm việc khá lớn, thực tế cho thấy để hoàn thiện công tác này, EVN cần có các giải pháp đồng bộ, lâu dài và mang tính chiến lƣợc.
Đặc thù nhân lực của ngành điện đó là ngành điện đƣợc hình thành trên cơ sở các đơn vị trong Bộ Năng lƣợng trƣớc đây, việc tổ chức quản lý cán bộ và lao động khá nề nếp. Hơn nữa, đặc thù của công tác chỉ đạo sản xuất trong ngành Điện mang tính hệ thống và kỷ luật cao, nên tạo đƣợc cơ chế hƣớng dẫn, kiểm tra về mặt nghiệp vụ lao động và tiền lƣơng từ trên xuống khá chặt chẽ.