Chương 1 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA KHU KINH TẾ VÀ VÙNG KINH TẾ 1. NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÓ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ 1. Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, khu kinh tế và vùng kinh tế - Về nguồn nhân lực chất lượng cao Trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, mọi quốc gia trên thế giới đều nhận thấy một trong những động lực nhằm tạo sự phát triển bền vững, có sức cạnh tranh, đưa các nước ra khỏi đói nghèo, lạc hậu là không thể thiếu tri thức khoa học và công nghệ hiện đại. Việt Nam không phải là ngoại lệ, nhất là khi nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH; việc chiếm lĩnh tri thức khoa học và công nghệ hiện đại để áp dụng thành công vào thực tiễn đã trở thành yêu cầu cấp bách.
Song, mọi nguồn lực dù có vai trò quan trọng đến đâu, cũng không thể tự phát huy tác dụng nếu nó không được con người nắm bắt, xử lý một cách chủ động, sáng tạo. Điều này đã được Mác chỉ ra trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844: “Xã hội sản xuất ra con người với tính cách như thế nào thì nó sản xuất ra xã hội như thế ấy”. Ở đây, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố căn bản của quá trình sản xuất, là trung tâm của quá trình phát huy nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Từ thời của Mác, dù chưa đề cập đến thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng Mác đã nêu ra quan niệm có liên quan đến vấn đề này: “những con 9 10 người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” [36, tr.
Ở đây, Mác muốn nói đến những con người có trình độ, có khả năng ứng dụng những thành tựu khoa học-kỹ thuật vào sản xuất. Mác cũng đưa ra quan niệm nhân tài để chỉ nguồn nhân lực chất lượng cao. Mác cho rằng, quần chúng nhân dân là kho báu nhân tài lớn nhất. Những người có tài trong xã hội là vô tận, nhưng chủ nghĩa tư bản đã bóp nghẹt, kìm hãm và làm mai một hàng loạt nhân tài.
Và Người nhấn mạnh tới vai trò của chế độ ưu việt với quá trình phát triển nhân tài: “Chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa mới lần đầu tiên tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nhân tài thể hiện bản lĩnh của mình, phát hiện người có tài năng, tạo ra cục diện mới cho nhân tài lớp lớp xuất hiện” [35, tr. Đến nay, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt chưa đề cập đến thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao, mặc dù trong thực tế được sử dụng khá nhiều. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành” [19, tr. Điều này, thể hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam có những điểm mới, trong đó tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xem đó là bước đột phá nhằm sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đồng thời tạo sự phát triển nhanh, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH.
Những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đi vào tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này và đưa ra một số quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao. Tiểu biểu là một số công trình sau: Trong “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao là: đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên 10 11 tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào CNH, HĐH [21, tr.27-28] Một tác giả khác trong “Nghiên cứu văn hóa con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI” đưa ra khái niệm “một nguồn nhân lực mới” để chỉ “lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất” [7, tr. Trong nghiên cứu về “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả quan niệm: “Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học, cao đẳng, công nhân lành nghề)” [8, tr.20] Cũng có tác giả nhấn mạnh vào vị thế của nguồn nhân lực này, rằng: nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực. Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đen lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao [30, tr.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao có thể được hiểu là một bộ phận của nguồn nhân lực, kết tinh những gì tinh túy nhất, điển hình nhất về chất lượng của nguồn nhân lực nói chung. Là bộ phận lao động có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào trong quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Mặt khác, đây còn là bộ phận lao động có phẩm chất đạo đức tốt, có tác phong nghề nghiệp, có tính kỷ luật, tinh thần yêu nước, ý thức tình cảm dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và 11 12 đạo đức nghề nghiệp. Họ là sản phẩm mới của chế độ mới – chính sách phát triển nhân lực phù hợp là một tác nhân rất quan trọng để phát triển nguồn nhân lực này.
Sự phát triển của nguồn nhân lực này trên thực tế, thường đi theo mô thức từ điểm sang diện, từ nhu cầu thực tiễn đến việc định hình vào quan niệm, quy chuẩn của quá trình đào tạo. Quá trình này thường diễn ra theo kiểu “vết dầu loang”- từ điểm phát triển thành diện, từ bộ phận trở thành đa số, thông qua chính sách giáo dục đào tạo hoặc qua thực tiễn công nghiệp hoá; bằng cách đó, họ dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn nâng cao trình độ văn hoá, tay nghề để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn công nghiệp hoá. - Khu kinh tế Khu kinh tế ở Việt Nam là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Theo quy định, một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10.
Các khu kinh tế được thành lập đều có vị trí địa lý thuận lợi (gần cảng biển, sân bay…), nối kết dễ dàng với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; có điều kiện để đảm bảo về kết cấu hạ tầng, nhất là cung cấp điện, nước, lao động.Và, thường được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư. Chẳng hạn hiện nay ở Việt Nam , tại các khu kinh tế, thuế thu nhập doanh nghiệp thường chỉ 10% được áp dụng trong 15 năm, kể từ khi dự án đầu tư bắt đầu hoạt động kinh doanh, và được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 9 năm tiếp theo; được giảm 50% thuế thu nhập cho người có thu nhập cao, kể cả người Việt Nam và người nước 12 13 ngoài làm việc tại các khu kinh tế. Ngoài ra, các dự án đầu tư vào khu kinh tế thuộc lĩnh vực: công nghệ cao, có quy mô lớn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngành, lĩnh vực hay phát triển kinh tế-xã hội của khu vực sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận còn được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% suốt thời gian dự án. Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu kinh tế cũng được quan tâm.
Chính phủ cho phép áp dụng nhiều phương thức huy động vốn đầu tư để phát triển khu kinh tế như: trong 15 năm đầu, kể từ khi Quyết định ban hành cơ chế chính sách đặc thù cho các khu kinh tế có hiệu lực, ngân sách Nhà nước cân đối hàng năm không thấp hơn toàn bộ nguồn thu ngân sách trên địa bàn khu kinh tế cho yêu cầu đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật-xã hội và các công trình dịch vụ, tiện ích công cộng quan trọng. Các khu kinh tế Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn hình thành, phải mất ít nhất là vài ba năm nữa mới thật sự được định hình và mang lại hiệu quả rõ hơn song bước đầu có thể thấy: khu kinh tế là khu vực có vị trí địa lý thuận lợi và hội tụ nhiều yếu tố cơ bản để phát triển – thông thường khu kinh tế thường nằm trọn trong địa bàn của một tỉnh; bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành; có môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi; có cơ sở vât chất kỹ thuật hiện đại. Nó thường tập trung nhiều cơ sở - doanh nghiệp kinh doanh trong nước và nước ngoài – qua đó, có thể hội tụ được nhiều nguồn vốn, công nghệ… Những ưu đãi về đầu tư và thuế suất cùng với việc tập trung nhân lực đã khiến khu kinh tế có ưu thế vượt trội nhiều mặt.