Chương 1: Cơ sở lý lu n của tổ chức trò chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ roi loạn phổ tự kỷ 5-6 tuổi Chương 2: Thực trạng tổ chức trò chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ RLPTK 5-6 tuổi ở trường mầm non Chương 3: Bi n pháp tổ chức trò chơi để PTNN cho trẻ RLPTK 5-6 tuổi Chương 4: Thực nghi m tổ chức trò chơi để PTNN cho trẻ RLPTK 5-6 tuổi 8 CHƯQNG 1 CQ S LÝ LU N CỦA TỔ CHỨC TRÒ CHQI ÐỂ PHÁT TRIỂN NGÔN NGŨ CHO TRẼ RỐI LOẠN PHỔ TỤ KỸ 5-6 TUỔI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong nhiều th p kỷ qua, trẻ RLPTK đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học trên the giới. Nhiều tác giả đã t p trung vào nghiên cứu về các lĩnh vực liên quan đen trẻ RLPTK như NN, trò chơi, cách hướng dẫn trẻ RLPTK chơi nhằm PTNN. Từ những công trình nghiên cứu của các tác giả trên the giới cũng như ở Vi t Nam, chúng tôi tien hành tổng hợp một so hướng chính trong nghiên cứu về NN, trò chơi và tổ chức trò chơi để PTNN cho trẻ RLPTK.
Những nghiên cứu về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ Những nghiên cứu về hành vi NN: Dựa trên công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ (Verbal behavior) của Skinner (năm 1957), các tác giả mô tả các loại NN nói hoặc phân loại hành vi NN bao gồm hành vi bắt chước NN, yêu cầu, hội thoại, và đưa ra đặc điểm NN của trẻ RLPTK cũng dựa theo những hành vi NN này[90]. Cách tiep c n này được gọi là phân tích hành vi NN- xem xét đáp ứng về NN đơn lẻ được xác định bởi tiền đề và h quả nhat định. Sự hướng dẫn về NN dưới quan điểm hành vi NN t p trung vào tiep thu sự thực thi lời nói chức năng và riêng bi t.Skinner, NN coi như là một hành vi được định hình, củng co và được kiểm soát bởi các bien đổi môi trường như động cơ, củng co, các kích thích tiền đề [68],[69]. Những nghiên cứu về NN dưới phương diện cấu trúc và chức năng.
Về phương di n cau trúc, một so nghiên cứu đã xem xét khả năng nghe hiểu NN trong các ngữ cảnh được coi là khó ở trẻ RLPTK. Hầu het trẻ RLPTK đều gặp khó khăn để nghe hiểu những gì người khác nói [61], [92]. Trẻ RLPTK găp van đề về cú pháp, ngữ pháp hơn là những bạn bè đồng trang lứa không mắc tự kỷ (Robert và đồng nghi p, 2004) [38],[53]. Câu của trẻ khi 9 diễn đạt hay bị thieu chủ ngữ, câu ngắn và thieu các liên ket từ trong câu.
Ðiều này khien cho trẻ khó khăn khi trình bày các van đề để người khác hiểu. Ở khía cạnh khác, trẻ RLTPK có hi n tượng lặp lại từ vựng. Nghiên cứu trên 40 trẻ RLPTK thì chứng nhại lời là bước đầu tiên để tiep nh n NN và nó sẽ giảm dần khi NN phát triển (Tager Flusberg & Calkins, 1990) [38]. Các công trình nghiên cứu chỉ ra trẻ RLPTK học các từ theo cách không điển hình ( Norbury, Griffiths & Nation, 2010), vi c trẻ sử dụng những từ đã biet được phát hi n là rat khác bi t với những đứa trẻ khác.
Trong một so nghiên cứu cap độ rộng, điểm so từ vựng ở trẻ RLPTK kém so với trẻ không tự kỷ (Kjelgaard & Tager Flusberg, 2001; Norbury, 2005; Loucas, 2008; Lindgren và đồng nghi p, 2009). Các nghiên cứu khác cũng gợi ý h thong ngữ nghĩa của trẻ là nghèo nàn[38],[51],[53],[73]. Về phương di n chức năng, nhiều nghiên cứu nhan mạnh đặc điểm sử dụng NN của trẻ RLPTK như là một dau hi u của khiem khuyet NN. Trẻ RLPTK thieu hụt trầm trọng trong các kĩ năng đàm thoại (Adams và đồng nghi p., 2005; Hale & Tager-Flusberg, 2005; Nadig và đồng nghi p., 2010; Paul và đồng nghi p., 2009), thể hi n quá nhiều hoặc quá ít sự khởi đầu, khả năng duy trì chủ đề kém, phản hồi cuộc trò chuy n ngẫu nhiên ít hơn và lời nói không thích hợp với ngữ cảnh hoặc xã hội.
Sự thieu hụt thể hi n rõ trong nhi m vụ tường thu t, lời đề nghị không liên quan đen boi cảnh (Norbury, Gemmell, & Paul, 2011 và bỏ qua các động lực của nhân v t hoặc sự ki n (Tager-Flusberg, 1995). Kĩ năng suy lu n kém (Jolliffe & Baron-Cohen, 2000; Norbury & Bishop, 2003) và sự suy giảm trong vi c giải quyet khó hiểu (Happe, 1997; Norbury, 2005). Nhiều công trình nghiên cứu của Linda Mawhinney, Mary Scott McTeague (2004), Kirstin Lee Bostelmann, Vivien Hellerr đã chỉ ra, trẻ RLPTK gặp khó khăn trong vi c sử dụng NN để thích nghi với xã hội, hạn che khả năng sử dụng NN. Ông cho rằng xap xỉ 50% trẻ RLPTK chưa bao giờ phát triển lời nói hoàn thi n như là một phương ti n để giao tiep [11],[14],[51],[73].
Nghiên cứu của Steven E. D và cộng sự ghi lại cuộc hội thoại giữa các trẻ RLPTK và cuộc hội thoại giữa trẻ RLPTK - trẻ phát triển bình thường. 10 Khi hội thoại, trẻ RLPTK đơn thuần chỉ đạt mục đích chứ không sử dụng NN chia sẻ. Trẻ chưa biet “những vi c làm cần thiet” để duy trì nói chuy n dài hơn với mọi người.
Nghiên cứu chỉ ra khó khăn lớn nhat là vi c trẻ RLPTK phải tiep nh n đồng thời các cách giao tiep khác nhau, mỗi cách thức diễn đạt đưa đen một thông tin khác nhau[88]. Nghiên cứu cho rằng PTNN trẻ RLPTK cần phải thông vui chơi cùng với tư duy, giao tiep năng động trong moi quan h với mọi người xung quanh. D cũng chỉ ra rằng, nhiều cha mẹ trẻ RLPTK nghĩ rằng con khó khăn về NN nên chỉ dạy cho trẻ biet cách đáp ứng những nhu cầu cần thiet mà không phát triển kĩ năng sử dụng NN một cách tích cực trong giao tiep [89]. Nghiên cứu về mối liên hệ giữa mức độ tự kỷ với mức độ NN, trong nhiều năm Mark L.Sundberg và Jack Michael nghiên cứu mô tả đặc điểm NN của một nhóm trẻ RLPTK và một nhóm đoi chứng (trẻ không tự kỷ) để so sánh đặc điểm NN của nhóm trẻ này.
Nghiên cứu cũng chỉ ra có moi liên h giữa mức độ tự kỷ với các biểu hi n của NN. Trẻ RLPTK ở mức độ nặng rat khó khăn trong vi c hình thành NN diễn đạt bằng lời nói. Hai ông cũng nhan mạnh vi c đưa nhiều hơn những nội dung dạy yêu cầu và lời nói vào dạy trẻ RLPTK [90]. Nghiên cứu về môi trường để PTNN cho trẻ RLPTK, NN của trẻ không tự kỷ được điều khiển bởi những gì trẻ thay và nghe trong môi trường tự nhiên.
Tính dễ tiep thu,bắt chước được gợi lên bởi những kích thích không lời và bằng lời trong môi trường đó. PTNN cho trẻ RLPTK trong môi trường tự nhiên (Natural Enviroment Training-NET) liên quan đen những yeu to cơ bản của vi c t p trung vào vi c thiet l p hoạt động (EO- Establishing Operations) và sử dụng tăng cường cụ thể. Nhiều nghiên cứu trước cho thay rằng sử dụng EO và tăng cường cụ thể có thể trợ giúp cho vi c PTNN cho trẻ RLPTK. Sử dụng những quan tâm của trẻ (EO) để chỉ dẫn NN sẽ tránh được khuyet điểm của huan luy n NN trong thử nghi m riêng bi t (Discrete Trial Training- DTT).
DTT là những huan luy n có thể tạo ra phản hồi NN lặp lại. Elliot và những cộng sự (1991) thực hi n những nghiên cứu PTNN cho trẻ RLPTK trong môi trường riêng bi t, loại suy đã đúc ket rằng: “Vi c giảng dạy NN trong môi trường tự nhiên có nhiều điểm mạnh. Nó được hỗ trợ bởi sự yêu thích cuả trẻ RLPTK”. Koegel cùng cộng sự sử dụng một phương pháp lu n 11 khác bi t, thay rằng “Giảng dạy NN đoi với trẻ RLPTK trong ngữ cảnh giảng dạy tự nhiên tạo ra nhiều hành vi mục tiêu chính xác hơn.
Những nghiên cứu về PTNN cho trẻ RLPTK sẽ tot hơn trong môi trường tự nhiên. Các hoạt vui chơi giúp trẻ PTNN là một mục tiêu hoàn toàn có thể đạt được NN[66],[79],[97]. Ở Vi t Nam, các nghiên cứu PTNN cho trẻ khuyet t t còn rat hạn che. Năm 1988, lu n án tien sĩ của tác giả Phạm Thị Cơi về “Quá trình hình thành ngôn ngữ nói ở trẻ điec Vi t Nam” [3].
Nhóm nghiên cứu dưới sự chủ trì của Nguyễn Thị Hoàng Yen đã tien hành nghiên cứu và làm rõ rõ đặc điểm PTNN chung của trẻ em và PTNN của nhóm trẻ có khó khăn về NN [31]. Nghiên cứu về PTNN cho trẻ RLPTK theo trường phái tiep c n hành vi ở Vi t Nam có tác giả Ðào Thị Thu Thủy có đề c p trong lu n án tien sĩ “Ðiều chỉnh hành vi ngôn ngữ cho trẻ roi loạn phổ tự kỷ 3 - 6 tuổi dựa vào bài t p chức năng”. Nghiên cứu này đã góp phần mở rộng đặc điểm hành vi NN và điều chỉnh hành vi NN cho trẻ RLPTK. Ðồng thời, xây dựng quy trình điều chỉnh hành vi NN và đề xuat sử dụng một so bài t p chức năng điều chỉnh hành vi NN cho trẻ RLPTK 3-6 tuổi.
Ðiều này phù hợp khi thực hi n được trong môi trường chuyên bi t. Tuy nhiên, viêc áp dụng các bài t p chức năng đó lại không phù hợp với trẻ RLPTK đang theo học các lớp MGHN, cần có những nghiên cứu tiep theo[26]. Về NN và PTNN cho trẻ RLPTK trên the giới đã có nhiều nghiên cứu. Các nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm về NN của trẻ RLPTK dưới góc độ hành vi và cau trúc NN.
Các phương pháp can thi p NN được t p trung vào hai hướng tiep c n hành vi và tiep c n phát triển trong đó nhiều nghiên cứu nhan mạnh PTNN cho trẻ thông qua môi trường tự nhiên, giao tiep và vui chơi. Ðiều này, cho phép sử dụng trò chơi, hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo để PTNN cho trẻ RLPTK. Những nghiên cứu về trò chơi của trẻ rối loạn phổ tự kỷ Trò chơi của trẻ RLPTK mặc dù chưa được đi sâu nghiên cứu trên phạm vi lớn, nhưng một so công trình đã đề c p đen nhiều khía cạnh khác nhau. Nghiên cứu về nhu cầu chơi của trẻ RLPTK, ket quả nghiên cứu đã cho thay trẻ RLPTK có nhu cầu cao hơn ở các mức độ chơi một mình và chơi cạnh nhau.
Trẻ 12 thể hi n thap hơn ở các mức độ chơi chơi theo nhóm, chơi ket hợp tương hỗ.