PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngành công nghiệp chế biến nông sản là một ngành kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Quốc Dân. Trong đó, công nghiệp chế biến trái cây có vị trí trọng yếu bởi lẽ trái cây là một loại hàng hoá có tính chất đặc biệt, rất khó bảo quản, và không thể để lâu sau khi thu hoạch vì chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng chứa trong nó nhanh bị giảm sút. Do vậy, phát triển công nghiệp chế biến trái cây sẽ tạo điều kiện cho việc xử lý, chế biến các loại trái cây ở dạng nguyên thuỷ thành các loại hàng hoá, sản phẩm khác có đặc trưng của loại trái cây đó nhưng có thể giữ, bảo quản được lâu hơn.
Góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển, đặc biệt là lĩnh vực trồng các loại trái cây theo hướng tập trung, chuyên canh. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy phần lớn lượng trái cây sau khi thu hoạch chỉ được tiêu thụ ở dạng tươi sống tại thị trường trong nước (80%) và một phần nhỏ để xuất khẩu (20%) (Quang Minh (06-12-2017). “Tiêu thụ trái cây chủ yếu vẫn phụ thuộc vào thương lái”). Bởi vì các doanh nghiệp tập trung mua gom xuất khẩu nguyên liệu thô, bán thành phẩm sang các thị trường thay vì đầu tư vào sản xuất chế biến để nâng cao giá trị.
Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ quá lớn là Trung Quốc luôn sẵn sàng thu mua nông sản Việt Nam kể cả trong những tháng nghịch mùa sản xuất của họ, cũng góp phần làm cho doanh nghiệp Việt chủ quan, chưa sẵn sàng bỏ vốn đầu tư sâu (Thanh nhân (19-11-2016). “Công nghiệp chế biến thực phẩm: Tiềm năng chưa tìm được vốn”). Chính vì chúng ta chưa chú ý đến khâu bảo quản và chế biến do vậy các loại trái cây không thể giữ được lâu, chất lượng nhanh bị giảm sút, giá thành tăng cao, khả năng cạnh tranh với trái cây nước ngoài nhập khẩu và xuất khẩu ra nước ngoài còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc làm tăng rủi ro cho việc tiêu thụ nông sản, nguy cơ nông sản bị hư hại và bị tiêu hủy cao nếu đầu ra gặp trở ngại.
Điệp khúc được mùa rớt giá có lẽ là lời than vãn thường nghe nhất của ngành nông nghiệp cây ăn trái Việt. Trong năm 2018, gần như mỗi một tháng người Việt lại có một loại 1 Luan van nông sản cầu cứu. Trong số đó, có nhiều mặt hàng được “giải cứu” thực sự bởi những cuộc vận động tiêu dùng hàng Việt vô cùng lớn như cuộc giải cứu dưa hấu diễn ra ở năm 2016. Xuất phát từ tinh thần tương thân tương ái và nỗi thương cảm mạnh mẽ của công chúng, hiện tượng này trở thành câu chuyện diễn ra hàng ngày.
“Giải cứu nông sản và bài học thị trường”) Ngoài ra, tác giả nhận định rằng, hiện nay xu hướng sử dụng các sản phẩm đồ uống có nguồn gốc từ thiên nhiên và giá trị dinh dưỡng cao đang ngày càng được người tiêu dùng trên toàn cầu ưa chuộng, rất nhiều sản phẩm thuộc các chủng loại khác nhau được cho ra đời với tiêu chí sử dụng các thành phần tự nhiên, và thêm nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe. “3 xu hướng của ngành thực phẩm – đồ uống”) Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài Phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nước trái cây có gas tại Việt Nam nhằm đề xuất giải pháp mở rộng đầu ra cho ngành nông nghiệp, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến trái cây nói riêng và ngành công nghiệp chế biến nói chung, thông qua các sản phẩm nước trái cây có gas với giá trị dinh dưỡng cao và thành phần tự nhiên từ nông sản Việt. Các công trình nghiên cứu có liên quan Luận án Tiến sĩ kinh tế Ninh Đức Hùng, (2013), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam”. Nội dung: Ở luận án này, tác giả đã thể hiện được năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là tổng hoà năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của tổ chức kinh tế tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm trái cây và năng lực cạnh tranh của địa phương trong việc cung cấp các dịch vụ công và hành chính công cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh trái cây.
Luận án cũng đã chỉ rằng để phát triển trái cây Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập, Nhà nước cần phát triển xây dựng các đầu tư công, chính sách công: đây là môi trường thuận lợi cho các hộ nông nghiệp, thương lái và doanh nghiệp phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường mới. Từ Luận án, có thể thấy việc phát triển chất lượng trái cây tại người trồng, đầu tư tư nhân trong kinh doanh, chế biến và chính 2 Luan van sách đầu tư công, dịch vụ công của Nhà nước là những yếu tố chủ yếu góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của trái cây Việt Nam. Luận văn thạc sĩ Đoàn Thị Mai, (2005), “Năng lực cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”. Nội dung: Tác giả đã nhìn nhận những thực tế và chân thật tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn đầu kinh tế Việt Nam hội nhập với thế giới.
Bối cảnh thị trường thế giới đã đòi những những yếu tố về chất lượng, mẫu mã của sản phẩm. Tuy nhiên, các nguồn lực sản xuất trong nước: đất đai cằn cỗi, kỹ thuật sản xuất, chế biến lạc hậu, mức độ cơ giới hoá sản xuất thấp, công nghệ chưa phát triển, là những vấn đề có tính cấp bách trong giai đoạn thời đó. Đây là những cơ sở, tiền đề để so sánh, đánh giá khả năng cạnh tranh thông qua phương pháp sản xuất nông sản những năm 2000 so với giai đoạn hiện nay. Luận án Tiến sĩ “Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh vùng Bắc Trung bộ” của Nguyễn Hồng Lĩnh (2007).
Luận án đã vận dụng các lý thuyết liên quan, đặc biệt là mô hình kim cương của M. Porter để phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ. Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo sát thực tế; rút kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp chế biến ở một số nước Đông Nam Á và dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, Luận án đã xác định các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản chủ lực để phát triển trên địa bàn Bắc Trung bộ Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia dến năm 2020 của Chính phủ. Theo Chương trình, sẽ hình thành và phát triển hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam bằng công nghệ tiên tiến, có năng lực cạnh tranh cao về tính mới, chất lượng, giá thành dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước.
Trong đó, giai đoạn 2010 – 2015 phải hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm dựa trên công nghệ tiên tiến và do các 6 doanh nghiệp khoa học và công nghệ sản xuất; giai đoạn tiếp theo sẽ mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm được xây dựng ở giai đoạn 2010 – 2015, mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu và xây dựng thương hiệu sản phẩm Việt Nam trên trường quốc tế. 3 Luan van Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001 – 2005 của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) với chủ đề “ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực”. Mục đích của Chương trình là nhằm gia tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao cũng như thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ. Nội dung chủ yếu của Chương trình là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh…; xây dựng các mô hình thâm canh và sản xuất công nghiệp trong nuôi trồng nông, lâm, thủy hải sản theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái.
“Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hà Nội”. Theo Quy chế này, cơ sở xác định sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố là các tiêu chí gồm sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoải nước; được tạo ra trên các dây chuyền thiết bị có trình độ công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất trong từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; tạo ra mức tăng trưởng cao, ổn định; hoặc thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng GDP công nghiệp. Quy trình xét chọn có 4 bước: đề xuất doanh nghiệp tham gia Chương trình; khảo sát sản phẩm công nghiệp ; tổ chức đánh giá, xét chọn và công nhận sản phẩm chủ lực. “Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2002 – 2005”.
Theo Chương trình này, Hệ thống tiêu chí lựa chọn sản phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chương trình trên năm lĩnh vực: thiết kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt động hướng dẫn, tư vấn hay môi giới doanh nghiệp với nhà tư vấn có năng lực và uy tín, giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn lực về khoa học và tài chính của thành phố. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của đề tài là đưa ra đề xuất, giải pháp góp phần phát triển ngành công nghiệp chế biến nước giải khát. Trên cơ sở đó, góp phần cải thiện đầu ra cho ngành công nghiệp cây ăn trái, đồng thời góp phần đa dạng hóa các sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến trái cây.