CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh Khái niệm chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên trong quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương không thể làm.
Thông thường người ta hiểu chiến lược là khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân sự, được ứng dụng để lập kế hoạch tổng thể và tiến hành những chiến dịch có quy mô lớn.[4, tr7] Trong bối cảnh cạnh tranh, thuật ngữ “trận địa” của chiến lược quân sự, có thể hiểu như là môi trường trong đó diễn ra hoạt động cạnh tranh, chúng ta sẽ sử dụng năng lực tạo sự khác biệt để mô tả các khả năng đặc biệt tạo ra ưu thế nhất định. Năng lực tạo sự khác biệt bao gồm các khả năng, các kỹ năng, các công nghệ và các nguồn lực đặc biệt cho phép một tổ chức có thể tạo ra sự khác biệt với đối thủ và tạo nên lợi thế cạnh tranh. Từ thập kỷ 60 (thế kỷ XX) chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “chiến lược kinh doanh” ra đời. Tuy nhiên, quan niệm về chiến lược kinh doanh cũng được phát triển dần theo thời gian và có nhiều định nghĩa chiến lược, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả.
Theo Alfred Chandler (ĐH Harvard): “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”. 7 Chandler là một người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược. Cho đến những năm 1980 khi mà môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muồi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”. Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”.
Theo Michael Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Theo định nghĩa chiến lược với 5 chữ P của mình Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược như sau: - Kế hoạch (Plan): Chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán. - Mô thức (Partern): Sự kiên định hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định. - Vị thế (Position): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó.
- Quan niệm (Perspective): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. - Thủ thuật (Ploy): Cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ. Không chỉ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, định nghĩa chiến lược còn khác nhau tùy theo cấp độ. Việc định nghĩa chính xác chiến lược theo cấp độ về bản chất tùy thuộc quan điểm.
Tối thiểu có ba mức chiến lược cần được nhận diện: Chiến lược cấp công ty; chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và các chiến lược chức năng. Chiến lược cấp công ty hướng tới mục đích và phạm vi 8 tổng thể của tổ chức. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể. Chiến lược chức năng là các chiến lược giúp cho các chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện các nguồn lực, các quá trình, con người và các kỹ năng cần thiết.
Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, các công ty đang nhanh chóng đa dạng hóa hoạt động của mình vượt ra khỏi biên giới quốc gia, từ đó, chiến lược toàn cầu như là sự lựa chọn đương đầu với các vấn đề kinh doanh có tính quốc tế. Như vậy, có thể hiểu chiến lược kinh doanh là một chương trình hành động tổng quát, xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và chính sách điều hành các nguồn lực dựa trên phân tích, dự báo sự biến đổi của các nhóm yếu tố môi trường bên ngoài, phát hiện các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu để đạt các mục tiêu, làm tăng sức mạnh một cách hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững tạo giá trị gia tăng cao. Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, cụ thể: - Giúp Nhà quản trị phát hiện các cơ hội, lường trước và né tránh các bất trắc trong tương lai, vạch ra các hành động một cách hữu hiệu, và nhận thức rõ các hiện tượng không chắc chắn và những rủi ro trong quá trình hoạt động của tổ chức. - Đảm bảo cho tổ chức có thể hoạt động một cách hiệu quả trong môi trường luôn thay đổi.
- Góp phần cải thiện lợi thế cạnh tranh của tổ chức nhờ vào việc cập nhật và đổi mới, duy trì sự ổn định, cải thiện hiệu quả các hoạt động của tổ chức. 9 - Là kim chỉ nam cho sự tập hợp và thống nhất tất cả các lực lượng và nguồn lực trong doanh nghiệp. - Giúp tăng doanh số bán ra, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, tránh được rủi ro về tài chính, ngăn chặn các nguy cơ mà công ty gặp phải trong kinh doanh; - Cuối cùng chiến lược kinh doanh đảm bảo sự phát triển liên tục và hệ thống trên cơ sở kế thừa và kết hợp giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.
Xác định viễn cảnh, sứ mệnh và các mục tiêu của doanh nghiệp a. Xác định viễn cảnh Viễn cảnh thể hiện các mục đích mong muốn cao nhất và khái quát nhất của tổ chức. Viễn cảnh mô tả khát vọng của tổ chức về những gì mà tổ chức muốn đạt tới. Viễn cảnh rất quan trọng vì nó tập trung sự tưởng tượng của con người trong tổ chức và động viên mọi nỗ lực để đạt được các mục đích, sự nghiệp và ý tưởng cao hơn.
Nội dung của viễn cảnh có thể bao gồm hai bộ phận cơ bản: - Tư tưởng cốt lõi - Hình dung về tương lai Tư tưởng cốt lõi xác định đặc tính lâu dài của một tổ chức, đó là một sự xác định có tính nhất quán vượt trên cả các chu kỳ sống của sản phẩm hay thị trường, các đột phá công nghệ, các kiểu cách quản trị và cá nhân nhà lãnh đạo. Tư tưởng cốt lõi tạo ra những đóng góp quan trọng và bền vững nhất cho những thành công ở các công ty có tầm nhìn xa. Tư tưởng cốt lõi bao gồm hai bộ phận là giá trị cốt lõi và mục đích cốt lõi. Các giá trị cốt lõi là các nguyên tắc nền tảng và bền vững của tổ chức.
Các tổ chức cần xác định cho chính mình những giá trị được giữ làm cốt lõi, độc lập với môi trường hiện tại, với yêu cầu cạnh tranh và cách thức quản trị. 10 Để nhận diện các giá trị cốt lõi cần lựa chọn tính chân thực, qua đó xác định giá trị nào thực sự là trung tâm và các giá trị đó phải đứng vững trước kiểm định của thời gian. Mục đích cốt lõi là lý do cơ bản nhất để tổ chức tồn tại. Một mục đích hữu hiệu phản ánh các động cơ thúc đẩy để thực hiện công việc của tổ chức; mô tả kết quả hay khách hàng mục tiêu của tổ chức, thể hiện sự sống còn của tổ chức.
Chúng ta không sáng tạo hay thiết lập tư tưởng cốt lõi, mà chúng ta khám phá tư tưởng cốt lõi từ môi trường bên trong. Tư tưởng cốt lõi phải đích thực, không thể ngụy tạo ra nó. Vai trò của tư tưởng cốt lõi là để dẫn dắt và truyền cảm hứng tới những người bên trong tổ chức, chứ không phải là tạo sự khác biệt. Bộ phận thứ hai của viễn cảnh là hình dung về tương lai.
Yếu tố quan trọng đầu tiên của hình dung tương lai là mục tiêu thách thức, đó là mục tiêu lớn, thách thức, táo bạo. Yếu tố thứ hai của hình dung về tương lai là một bản mô tả sinh động; đó là một bản mô tả cụ thể, hấp dẫn về những điều mà mục tiêu thách thức cần đạt được. Nỗi đam mê, xúc cảm và sức thuyết phục là bộ phận chủ yếu của bản mô tả sinh động. Việc xác định tư tưởng cốt lõi là một quá trình khám phá, nhưng việc tạo ra hình dung tương lai là quá trình sáng tạo.
Xác định sứ mệnh Bản tuyên bố sứ mệnh là một mệnh lệnh then chốt về cách thức mà một tổ chức nhìn nhận về các đòi hỏi của các bên hữu quan. Bản tuyên bố sứ mệnh tập trung vào sự thay đổi mong muốn của tổ chức. Sứ mệnh là tiêu điểm và là hiệu lệnh nhằm giải phóng tiềm năng của tổ chức, song nó vẫn là những gì có khả năng đạt được trong một thời gian. Tuyên bố sứ mệnh phục vụ cho nhiều người nghe.
Ở bên trong, nó cung cấp tâm điểm và xung lượng cho các 11 hoạt động của tổ chức. Ở bên ngoài, qua những tuyên bố xúc tích về tổ chức họ có thể xác định mong muốn thiết lập và phát triển các quan hệ với tổ chức. Bản tuyên bố sứ mệnh tạo ra nền tảng cho toàn bộ công tác xây dựng kế hoạch. Nó là điểm tham chiếu để đánh giá các mục tiêu các chiến lược của tổ chức.
Các mục tiêu Sứ mệnh vẫn chưa chỉ ra được các mục tiêu cụ thể cần đạt được để hướng tới mục đích lớn lao hơn. Vì vậy, cần phải thiết lập một cách cụ thể các mục tiêu. Mục tiêu tức là trạng thái tương lai mà công ty cố gắng thực hiện hay là kết quả cuối cùng của các hành động được hoạch định. Phân tích môi trường bên ngoài a.
Môi trường vĩ mô Các yếu tố của môi trường vĩ mô sẽ mang lại cho doanh nghiệp những cơ hội và cả những đe dọa.