Tổng quan nghiên cứu

Năm 2009, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào lĩnh vực du lịch tại Việt Nam đạt 8,8 tỷ USD trên tổng số 22,48 tỷ USD của cả nước, chiếm tỷ trọng 41% tổng vốn FDI đăng ký, đồng thời ngành du lịch đóng góp trực tiếp khoảng 5% vào GDP quốc gia với gần 1 triệu lao động trực tiếp. Nằm ở trung tâm duyên hải Nam Trung Bộ với 385 km bờ biển và hệ thống vịnh biển nguyên sơ, tỉnh Khánh Hòa sở hữu lợi thế vượt bậc để trở thành trung tâm du lịch biển đảo tầm cỡ khu vực. Tuy nhiên, nguồn lực tài chính đầu tư cho ngành du lịch Khánh Hòa thời gian dài chủ yếu dựa vào vốn trong nước, số lượng dự án FDI quy mô lớn còn khiêm tốn, dẫn đến việc khai thác tiềm năng chưa tương xứng với vị thế vốn có.

Trước thực tế đó, nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để tháo gỡ các nút thắt thể chế, hạ tầng và môi trường kinh doanh nhằm thu hút hiệu quả dòng vốn FDI vào ngành du lịch Khánh Hòa? Luận văn hướng đến ba mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu hút FDI trong ngành dịch vụ du lịch; Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI và các nhân tố ảnh hưởng tại địa phương giai đoạn 2003 - 2009; Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm gia tăng quy mô và chất lượng dòng vốn FDI. Phạm vi nghiên cứu được xác định trên địa bàn toàn tỉnh Khánh Hòa trong khung thời gian từ năm 2003 đến năm 2009. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu đưa tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 12% - 13%/năm và nâng tỷ trọng khu vực dịch vụ lên 47% vào năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng các học thuyết kinh tế phát triển và đầu tư quốc tế kinh điển. Luận điểm tăng trưởng của Torado (1992) và mô hình Harrod - Domar khẳng định mối quan hệ giữa tích lũy vốn đầu tư với tốc độ tăng trưởng GDP thông qua hệ số sinh lợi vốn ICOR. Kế thừa quan điểm của Robert Solow (1956) và Paul Samuelson, vốn FDI được xác định là nguồn ngoại lực tất yếu để phá vỡ vòng đói nghèo luẩn quẩn của các nền kinh tế đang phát triển. Lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm của Raymond Vernon (1966) cùng mô hình đàn sếu bay của Akamatsu Kaname (1962) giải thích động cơ chuyển dịch dòng vốn FDI từ các quốc gia phát triển sang nước sở tại nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất và mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết lợi thế sở hữu độc quyền của Stephen Hymer (1960) và John Dunning (1987) kết hợp khung phân tích chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ của Moise Syrquin.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh năm khái niệm cốt lõi: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Môi trường đầu tư du lịch, Năng suất cận biên của vốn, Sản phẩm du lịch vô hình và Cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám Thống kê tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2003 - 2009, báo cáo định kỳ của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa cùng các văn bản chỉ đạo vĩ mô như Chỉ thị 1617/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu chuyên gia.

Cỡ mẫu nghiên cứu định tính bao gồm 45 chuyên gia quản lý nhà nước về kinh tế - du lịch kết hợp đại diện của 25 doanh nghiệp lữ hành, lưu trú đang hoạt động trên địa bàn. Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên định ngạch được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du lịch. Phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian và so sánh đối chiếu chỉ số tài chính - kinh tế bằng phần mềm bảng tính. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ nhu cầu đánh giá biến động định lượng của dòng vốn, công suất buồng phòng và lượt khách theo chuỗi 7 năm liên tục, từ đó kiểm chứng tính tương thích giữa cơ chế chính sách địa phương và kết quả giải ngân FDI trên thực tế trong suốt timeline nghiên cứu 12 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực chứng giai đoạn 2003 - 2009 ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

  • Tăng trưởng vượt bậc về số lượng cơ sở lưu trú nhưng công suất khai thác chưa tối ưu: Tổng số cơ sở lưu trú du lịch tăng từ 202 cơ sở với 3.841 phòng năm 2003 lên 387 cơ sở với 8.841 phòng năm 2009 (tốc độ tăng bình quân 12,66%/năm; quy mô buồng phòng tăng 2,38 lần). Toàn tỉnh có 303 khách sạn với 7.559 phòng, bao gồm 2 khách sạn 5 sao (606 phòng) và 3 khách sạn 4 sao (396 phòng). Tuy nhiên, công suất sử dụng phòng bình quân toàn giai đoạn chỉ dao động trong khoảng 50,6% đến 52,8%.
  • Tốc độ tăng trưởng khách du lịch và doanh thu đạt mức cao: Lượng du khách đến Khánh Hòa tăng từ 397.509 lượt khách (năm 2002) lên khoảng 1.421.000 lượt khách (năm 2009), đạt mức tăng trưởng bình quân 19,22%/năm (tăng gấp 3,42 lần). Riêng năm 2009, Nha Trang đón 23 chuyến tàu biển quốc tế với 15.000 lượt khách lên bờ tham quan, tăng 7,1% so với năm 2008.
  • Tín dụng ngành dịch vụ mở rộng nhanh nhưng dự án FDI lớn chậm triển khai: Số dư nợ tín dụng trung và dài hạn cho ngành dịch vụ tăng trưởng bình quân 45,71%/năm, chiếm tỷ trọng cao nhất trong các ngành kinh tế của tỉnh. Dẫu vậy, các dự án FDI quy mô lớn đăng ký tại các vùng trọng điểm như Khu du lịch Sông Lô, Vịnh Vân Phong và Bắc bán đảo Cam Ranh triển khai thi công chậm so với tiến độ cam kết.
  • Chất lượng nhân lực du lịch còn nhiều hạn chế: Mặc dù lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm 42% dân số, nhưng chỉ có 2,1% đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên và tỷ lệ qua đào tạo nghề năm 2005 chỉ đạt 26%. Đến cuối năm 2009, toàn tỉnh có 51 doanh nghiệp lữ hành nhưng chỉ có 72 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế dài hạn được cấp phép.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích chỉ ra rằng sự chênh lệch giữa tiềm năng tài nguyên biển đảo và kết quả thu hút FDI tại Khánh Hòa xuất phát từ các rào cản nội tại. Công tác giải phóng mặt bằng, thẩm định quy hoạch sử dụng đất còn kéo dài, làm giảm hiệu suất dòng vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Tình trạng an ninh trật tự phức tạp trước năm 2006 cùng nạn chèo kéo, bán hàng rong đã tạo tâm lý e ngại cho khách quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số quay vòng buồng phòng (duy trì mức 50% - 52,8%). So với các địa phương phát triển du lịch trong khu vực ASEAN như Phuket (Thái Lan) hay Bali (Indonesia), Khánh Hòa thiếu hụt các tổ hợp giải trí - nghỉ dưỡng phức hợp đạt chuẩn 5 sao do các tập đoàn quản lý khách sạn đa quốc gia vận hành.

Để trực quan hóa các phát hiện trên, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường, trong đó trục hoành biểu thị chuỗi năm từ 2003 đến 2009, cột biểu thị quy mô số phòng (từ 3.841 lên 8.841 phòng) và đường biểu diễn công suất khai thác phòng (duy trì quanh mốc 50%). Đồng thời, bảng ma trận đối chiếu SWOT về môi trường đầu tư sẽ làm rõ tương quan giữa nguồn lực thiên nhiên và các điểm nghẽn về hạ tầng kết nối.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, bốn nhóm giải pháp đột phá được đề xuất thực hiện nhằm gia tăng hiệu quả thu hút FDI vào du lịch Khánh Hòa:

  • Đẩy mạnh cải cách hành chính và giải phóng mặt bằng: Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư thiết lập cơ chế một cửa liên thông, rút ngắn 30% thời gian thẩm định, cấp phép chứng nhận đầu tư và hoàn tất đền bù giải tỏa cho các dự án nghỉ dưỡng cao cấp tại Vịnh Vân Phong và Bãi Dài Cam Ranh trong giai đoạn 2011 - 2015.
  • Hiện đại hóa kết cấu hạ tầng giao thông và dịch vụ phụ trợ: Sở Giao thông Vận tải phối hợp các cơ quan trung ương hoàn thiện nâng cấp Cảng hàng không Cam Ranh thành cảng hàng không quốc tế, nâng cấp hệ thống cầu cảng chuyên dụng tại Cảng Nha Trang để nâng sản lượng đón tàu khách biển quốc tế lên trên 30 chuyến/năm giai đoạn 2011 - 2015.
  • Nâng chuẩn nguồn nhân lực du lịch địa phương: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch liên kết với các trường đại học, cao đẳng xây dựng chương trình đào tạo nghiệp vụ chuẩn quốc tế, nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo từ 26% lên 45%, cấp mới hơn 150 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế chuyên nghiệp trước năm 2015.
  • Đổi mới chiến lược xúc tiến đầu tư và định vị thương hiệu: Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Khánh Hòa chủ trì tổ chức từ 2 đến 3 hội nghị xúc tiến FDI quốc tế thường niên, tập trung thu hút từ 5 đến 7 tập đoàn quản lý khách sạn danh tiếng toàn cầu vào các dự án sinh thái biển đảo bền vững theo đúng tinh thần Chỉ thị 1617/CT-TTg giai đoạn 2011 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Du lịch Khánh Hòa có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu làm căn cứ hoàn thiện chính sách ưu đãi đất đai, thuế và xây dựng quy hoạch không gian du lịch biển đảo.
  • Các nhà đầu tư và doanh nghiệp kinh doanh du lịch: Các tập đoàn kinh tế trong nước và quốc tế tìm thấy bức tranh tổng quan về thị trường lưu trú (387 cơ sở, 8.841 phòng) cùng các phân tích chi phí - lợi ích phục vụ cho việc lập dự án khả thi đầu tư resort 4 - 5 sao.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giới học thuật thuộc khối ngành Kinh tế phát triển, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành sử dụng tài liệu làm tài liệu tham khảo về khung lý thuyết FDI và phương pháp phân tích thực chứng chuỗi thời gian 2003 - 2009.
  • Các tổ chức xúc tiến thương mại và hiệp hội nghề nghiệp: Hiệp hội Du lịch Nha Trang - Khánh Hòa có thể ứng dụng các bài học kinh nghiệm quốc tế từ Singapore, Thái Lan để xây dựng chiến dịch liên kết vùng và quảng bá hình ảnh điểm đến văn minh, an toàn.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao thu hút vốn FDI lại là yếu tố then chốt cho phát triển du lịch Khánh Hòa? Nguồn vốn FDI giúp bổ sung nguồn vốn đầu tư xã hội lớn khi nguồn lực nội địa có hạn. Năm 2009, FDI du lịch chiếm 41% tổng vốn đăng ký cả nước (8,8 tỷ USD), mang lại công nghệ quản lý hiện đại và mạng lưới khách hàng toàn cầu cho các địa phương ven biển như Khánh Hòa.
  • Vì sao công suất sử dụng phòng tại Khánh Hòa giai đoạn 2003 - 2009 chỉ duy trì ở mức khoảng 50% đến 52,8%? Mặc dù số phòng tăng gấp 2,38 lần (từ 3.841 lên 8.841 phòng), nhưng lượng khách quốc tế lưu trú dài ngày chưa bứt phá tương ứng, cộng với tính chất mùa vụ du lịch biển và thiếu hụt các sản phẩm vui chơi giải trí ban đêm để giữ chân du khách.
  • Khâu đột phá hạ tầng giao thông nào có tác động lớn nhất đến dòng vốn FDI du lịch tỉnh? Việc đưa Sân bay Cam Ranh vào khai thác dân sự với đường băng dài 3.080 m thay thế sân bay Nha Trang cũ và định hướng nâng cấp thành sân bay quốc tế đóng vai trò quyết định trong việc kết nối các chuyến bay thẳng đưa dòng khách chi tiêu cao đến địa phương.
  • Luận văn áp dụng những lý thuyết kinh tế nào để giải thích quá trình dịch chuyển vốn FDI? Nghiên cứu áp dụng hệ thống lý thuyết tăng trưởng Harrod - Domar, Solow (1956), lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm của Vernon (1966), đàn sếu bay của Akamatsu Kaname (1962) và lý thuyết tiếp cận thị trường của Ragnar Nurkse.
  • Chỉ thị 1617/CT-TTg đặt ra yêu cầu gì đối với công tác quản lý FDI ngành du lịch giai đoạn 2011 - 2020? Chỉ thị yêu cầu các địa phương rà soát chặt chẽ quy hoạch, kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ, ưu tiên thu hút các dự án FDI có công nghệ thân thiện với môi trường và tăng cường giám sát nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành du lịch dịch vụ.
  • Phân tích thực chứng giai đoạn 2003 - 2009 ghi nhận sự bứt phá của du lịch Khánh Hòa với lượt khách tăng 3,42 lần và quy mô phòng nghỉ tăng từ 3.841 lên 8.841 phòng.
  • Đánh giá thẳng thắn các tồn tại về công suất phòng (chỉ đạt 52,8%), tiến độ chậm của các dự án lớn tại Vân Phong, Cam Ranh và tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 26%.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao gắn với cải cách hành chính, hạ tầng sân bay quốc tế Cam Ranh và đào tạo nhân lực.
  • Khẳng định thu hút vốn FDI chất lượng cao là động lực quan trọng để cơ cấu kinh tế Khánh Hòa đạt tỷ trọng ngành dịch vụ 47% vào năm 2015.

Đóng góp khoa học và thực tiễn lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh số liệu chuỗi thời gian hoàn chỉnh cùng hệ thống luận cứ xác đáng cho công tác điều hành kinh tế đối ngoại tại địa phương. Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2011 - 2015 cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn mặt bằng và hạ tầng sân bay; giai đoạn 2016 - 2020 hướng tới phát triển chuỗi giá trị du lịch biển đảo cao cấp, bền vững. Các nhà quản lý, nhà đầu tư và nhà nghiên cứu quan tâm hãy tiếp tục khai thác sâu các nội dung phân tích thực chứng của luận văn để ứng dụng vào thực tiễn hoạch định chiến lược kinh tế.