Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC DẠY HỌC, NĂNG LỰC VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG ĐÀO TẠO SINH VIÊN SƢ PHẠM 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về việc phát triển năng lực dạy học và năng lực vận dụng phƣơng pháp dạy học tích cực cho sinh viên sƣ phạm 1. Trên thế giới NL vận dụng PPDH là một trong các NL thành phần của NLDH. Trên thế giới, những năm 60 của thế kỷ XX, vấn đề phát triển NLDH được coi là những nhiệm vụ (NV) rất quan trọng của trường sư phạm ở Liên Xô và các nước Đông Âu.N [25] đã phân tích được cấu trúc NL sư phạm bao gồm: các NL truyền đạt, các NL tổ chức, NL nhận thức và NL sáng tạo.
Đồng thời các tác giả này cũng đưa ra những kĩ năng (KN) cơ bản cần có của người GV, đồng thời đề xuất các năng lực cần được phát triển cho người GV tương lai. Bước sang thập kỷ 70 và những năm sau đó, các công trình nghiên cứu ở Liên Xô và Đông Âu đẩy mạnh theo hướng nghiên cứu sâu về tổ chức lao động khoa học - quá trình dạy học. Nhiều phân tích lí luận sâu sắc và những kết quả nghiên cứu thực tiễn của các tác giả này đã đặt ra yêu cầu đối với công tác thực tập sư phạm cũng như công tác rèn luyện các KNDH cho SV sư phạm ở Liên Xô cũ. Ở các nước phương Tây, trong lĩnh vực sư phạm, họ đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức huấn luyện các KN thực hành dạy học cho SV.
Thời lượng giờ thực hành được phân bổ nhiều hơn so với lý thuyết. Quan điểm giáo dục này cũng giống như ở các nước Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia…Những luận điểm của J.Pojoux năm 1926 đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nên hình thức đào tạo sư phạm theo quan điểm tôn trọng thực tiễn và chia nhỏ giai đoạn (dẫn theo [55]). Năm 1955, vấn đề đào tạo theo giai đoạn là nội dung được thảo luận tại cuộc họp thường niên của tổ chức UNESCO, nhưng phải đến những năm 70, tại Mỹ mới đẩy mạnh nghiên cứu triển khai các mô - đun đào tạo GV theo từng nội dung lý thuyết. Nội dung của mô - đun bao gồm các tài liệu và nội dung hướng dẫn cần thiết 7 để thực hiện mục tiêu giáo dục chung đã đề ra.
Hình thức đào tạo theo mô - đun này cho đến nay vẫn tiếp tục được ứng dụng trong thực tiễn với những mức độ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm và nhu cầu giáo dục của mỗi quốc gia. Vai trò và nhiệm vụ hình thành KN sư phạm luôn là đề tài được quan tâm trong các cuộc hội thảo về lĩnh vực giáo dục. Nội dung báo cáo “ Khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo” do nhóm Phiđenta Kapkar (Mỹ) trình bày, đã nêu năm nhóm kĩ thuật (tương ứng với 5 bước cơ bản đã được đề cập trong một số công trình của các học giả khác) và những kết quả áp dụng trong bối cảnh giáo dục Mỹ- của GV khi lên lớp (dẫn theo [55]). Qua phân tích các công trình nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy: Thứ nhất, các công trình này đều đề cập đến vấn đề đào tạo đội ngũ GV đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Thứ hai, mặc dù cùng quan điểm lý thuyết gắn với thực hành nhưng trong quy trình đào tạo sư phạm, các học giả Âu- Mỹ đã xác định hình thức đào tạo mới đó là đào tạo theo mô-đun. Còn đối với các nước Châu Á, chương trình đào tạo GV cũng chú trọng đến việc phát triển NL nghề nghiệp cho SV, trong đó nhấn mạnh đến việc phát triển NLDH thông qua thực hành và thực tập sư phạm. Chẳng hạn, chương trình giáo dục nghề nghiệp cho SV sư phạm của trường ĐHSP Đài Loan được xây dựng theo tiếp cận NL nghề nghiệp của người giáo viên. Trong đó, họ tập trung vào 5 NL then chốt (trung tâm) sau: NL lập kế hoạch, NLDH, NL quản lí, NL đánh giá và NL phát triển nghề nghiệp (dẫn theo [21]).
Chương trình đào tạo GV tại Singapore lại chú trọng phát triển NLDH thông qua thực tập sư phạm đồng thời đề cao khối kiến thức liên quan đến nghề nghiệp (khoảng 100-150 giờ một khóa học về PPDH) [68], [69]. Những ưu điểm cũng như hạn chế của các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài giúp chúng tôi xác định rõ các bước cơ bản trong việc hình thành, phát triển NL VDPPDH cho SV sư phạm hóa học. Ở Việt Nam Vấn đề phát triển NLDH đã được quan tâm nhiều năm qua ở nước ta. Trong các tài liệu gần đây liên quan đến vấn đề năng lực nghề nghiệp của người GV, đáng 8 chú ý nhất là Chuẩn nghề nghiệp GV trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Tài liệu đã đề cập đến nhiều năng lực mà một người GV phải đạt được như: NL tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; NLDH; NL giáo dục; NL hoạt động chính trị, xã hội; NL phát triển nghề nghiệp. Đây là những NL nghề nghiệp căn bản mà mỗi GV phải đạt được. Đó cũng là thước đo để đánh giá sản phẩm đào tạo của các trường ĐHSP hoặc các trường có đào tạo GV phổ thông. Tuy nhiên, GV vẫn cần được nâng cao chính các NL ấy đồng thời bổ sung các NL khác nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục mới ở nhà trường phổ thông.
Hơn nữa, đó vẫn là các NL nghề nghiệp nói chung của người GV. Hệ thống các NL cụ thể của GV ở các bộ môn (Toán, Ngữ văn, Sinh học, Hóa học, Vật lý…) vẫn chưa có nhiều những nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể và toàn diện và chủ yếu mới chỉ đề cập đến việc rèn luyện KNDH. Năm 1992, luận án “Hệ thống kĩ năng giảng dạy trên lớp về môn Giáo dục học và quy trình rèn luyện các kĩ năng đó cho SV khoa Tâm lý – Giáo dục” của tác giả Nguyễn Như An [1] được coi là một công trình nghiên cứu có hệ thống về một số vấn đề rèn luyện các KNDH cho SV ở ĐHSP. Năm 1996, trong luận án Phó tiến sĩ, tác giả Trần Anh Tuấn [57] đã đề xuất một số quy trình giúp hình thành cho SV hệ thống các KNDH để đạt hiệu quả cao khi thực hiện bài lên lớp.
Trong “Dạy và học tích cực. Một số PP và kĩ thuật dạy học” nhóm tác giả [9] đã đưa ra hiện trạng quy trình đào tạo, bồi dưỡng các KN nghề sư phạm phổ biến hiện nay cho các GV là: Giới thiệu lý thuyết về tổ hợp KN Người học quan sát tổng thể, đồng thời Thực hành dạy trên lớp học truyền thống. Nhóm tác giả Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Cao Đằng [32] trong kết quả nghiên cứu về “Xây dựng quy trình rèn luyện KNDH cho SV khoa sư phạm kĩ thuật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” đã đưa ra quy trình rèn luyện KNDH cho SV khoa sư phạm kĩ thuật gồm 5 bước như sau: Bước 1 - Cho SV quan sát người khác thực hiện/trình diễn mẫu về KN để họ được làm quen, tạo biểu tượng về KN; Bước 2 - Làm thử qua việc bắt chước từng động tác, từng phần của hành động để hiểu bản chất, trình tự các hành động/thao tác; Bước 3 - Thực hành cơ bản qua việc 9 bắt chước toàn bộ hành động nhiều lần để đạt độ chính xác; Bước 4 - Thực hiện KN trong các tình huống khác nhau để tăng độ chính xác và củng cố; Bước 5 - Vận dụng KN trong hoạt động nghề nghiệp để xác nhận ý nghĩa của chúng. Đối với việc rèn luyện KN sư phạm cho SV sư phạm hóa học, một số nghiên cứu tiêu biểu đã đưa ra hệ thống KN sư phạm, đề xuất các biện pháp, quy trình để rèn luyện cho SV sư phạm hóa học như luận án Phó Tiến sỹ: “Dùng bài toán tình huống mô phỏng rèn luyện KN thiết kế công nghệ bài nghiên cứu tài liệu mới cho SV khoa hóa học ĐHSP” của tác giả Đặng Thị Oanh [40].
Công trình đã đề cập đến việc nghiên cứu tình huống mô phỏng hành vi, biên soạn theo tiếp cận mô - đun để rèn KNDH cho SV bằng cách đề xuất biện pháp vận dụng tiếp cận mô - đun vào việc đào tạo SV tại trường ĐHSP Hà Nội, xây dựng hệ thống KN thiết kế công nghệ bài dạy học và rèn KNDH cho SV sư phạm hóa học. Trong nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn luyện KNDH Hóa học cho SV trường ĐHSP”, tác giả Trịnh Văn Biều [7] đã đề xuất các biện pháp: Thiết kế tài liệu dạng mở cho thảo luận nhóm; Tổ chức cho SV tham gia vào quá trình tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau và hoàn thiện nội dung giáo trình Thực hành thí nghiệm lí luận dạy học hóa học và PP rèn luyện các KNDH cơ bản cho SV trong các buổi thực hành thí nghiệm. Trong luận án Tiến sĩ với đề tài “Rèn luyện KNDH theo hướng tăng cường NL tự học, tự nghiên cứu của SV khoa Hóa học ngành sư phạm ở các trường đại học” tác giả Nguyễn Thị Kim Ánh [2] đã áp dụng PPDH vi mô trong dạy học học phần phương pháp thực hành, đề xuất hệ thống các KNDH cho SV sư phạm hóa học thông qua việc thiết kế giáo trình điện tử để làm tài liệu tự học, tự nghiên cứu. Qua đó nhằm rèn luyện KNDH cho SV sư phạm hóa học, trong đó rèn luyện KN thí nghiệm được tác giả chú trọng nghiên cứu.
Liên quan đến việc phát triển NLDH cho SV, trong môn Toán có luận án Tiến sĩ Giáo dục học “Phát triển NLDH Toán cho SV các trường sư phạm” của tác giả Đỗ Thị Trinh [55]. Tác giả đã đề xuất nhóm biện pháp phát triển NLDH toán cho SV bao gồm Rèn KN giải toán phổ thông; Nghiên cứu đại số sơ cấp và hình học sơ cấp; Tổ chức cho SV trao đổi, thảo luận để lựa chọn PPDH phù hợp; Tập luyện cho SV biên soạn tốt những phần cơ bản của một giáo án; Tập dượt trình bày, 10 diễn đạt bài giảng trên lớp cho SV trong các giờ thực hành PPDH toán và trong học phần nghiệp vụ sư phạm. Tuy nhiên, tác giả chưa đề xuất cấu trúc NLDH toán học dành cho SV sư phạm. Đối với việc phát triển NL cho SV sư phạm hóa học, gần đây còn có luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Gấm [24] “Phát triển NL sáng tạo cho SV thông qua dạy học phần Hóa vô cơ và lí luận – PPDH hóa học ở trường Cao đẳng sư phạm”.