Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu về tư duy biện chứng, năng lực tư duy biện chứng 1. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tư duy biện chứng, năng lực tư duy biện chứng Tư duy biện chứng và phát triển năng lực TDBC là vấn đề của nhận thức luận trong triết học đồng thời cũng là tiêu điểm của các khoa học nghiên cứu về tư duy từ những bình diện khác nhau như Tâm lý học, Giáo dục học, Lôgíc học. Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị học thuật cao với nội dung sâu sắc và khá đầy đủ về tư duy biện chứng và phát triển tư duy biện chứng của chủ thể người với ý nghĩa triết học - nhân học sâu sắc.
Trước hết, có thể kể tới các tác phẩm của các nhà triết học Liên Xô đã được dịch sang tiếng Việt, trong đó có cuốn Nguyên lý Lôgíc học biện chứng [110] của M. Đây là một trong số hai tác phẩm của ông được xuất bản từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, đã chỉ ra được bản chất của tư duy và quy luật của nó, đặc biệt đi sâu phân tích các quy luật biện chứng của tư duy và vấn đề mâu thuẫn biện chứng được đưa ra ra trong cuốn Tư bản của C. Tác phẩm Phương pháp nhận thức biện chứng [115] của A. Septulin ngoài việc đề cập tới quy luật biện chứng của tư duy, còn đề cập đến các nguyên tắc của tư duy biện chứng và việc áp dụng phương pháp khoa học vào nghiên cứu tư duy.
Lôgíc được coi là một vấn đề quan trọng trong phát triển tư duy, do vậy khi nghiên cứu về tư duy và phát triển năng lực tư duy không thể tách rời vấn đề lôgíc của tư duy. Khi nghiên cứu Lôgíc học hình thức, Gorki trong cuốn Lôgíc học (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1974), cho rằng, chỉ khi chúng ta vận dụng những tư tưởng có nội dung chân thực đã được chứng minh phù hợp với quy luật của lôgíc học thì khi đó tư duy mới trở nên đúng đắn. Ông khẳng định các quy luật của lôgíc hình thức giúp cho chủ thể nhận thức khắc phục được hạn chế và sai lầm trong tư duy, giúp nâng cao trình độ và năng lực tư duy, từ đó phản ánh một cách chính xác hiện thực khách quan. Chính vì vậy, quy luật lôgíc hình thức có vai trò rất quan trọng trong tư duy và nhận thức khoa học.
Vấn đề lôgíc biện chứng và tư duy lôgíc 7 được tiếp cận từ khía cạnh khảo sát các quan niệm của các nhà triết học trong lịch sử về đối tượng của khoa học lôgíc đã được E. Ilencov trình bày trong tác phẩm Lôgíc học biện chứng [52]. Ông cho rằng, vấn đề bản chất tư duy con người lại được nổi lên, được hình thành và thể hiện thật rõ nét trên chính con đường phát triển của lôgíc học. Đây là một nhận định mới mẻ so với những nghiên cứu và khẳng định trước đó.
Những nhận định chung trong tác phẩm là những nhận định sâu sắc về bản chất, nguồn gốc, quá trình vận động và phát triển của tư duy. Lôgíc học biện chứng đã mang đến hàng loạt những vấn đề có tính gợi mở về tư duy, hơn thế nữa, còn đề xuất những quan điểm mang tính cách mạng về tư duy. Chính những nỗ lực trong tìm tòi và khám phá này đã góp phần làm nên sự thành công của nghiên cứu, đưa Lôgíc học biện chứng trở thành một công trình có giá trị quan trọng và rất cần thiết đối với lĩnh vực nghiên cứu tư duy biện chứng. Trong bộ Lịch sử phép biện chứng Mácxít.
Từ khi xuất hiện Chủ nghĩa Mác đến Lênin [70], vấn đề TDBC đã được đưa ra và phân tích một cách khoa học, sâu sắc và có sức thuyết phục nhất. Trong công trình này, các tác giả của Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã chỉ ra và phân tích sự gắn liền giữa quá trình phát triển của phép biện chứng với quá trình phát triển của TDBC, trong đó đã chứng minh phép biện chứng duy vật chính là hình thức phát triển cao nhất của phương pháp TDBC. Phương pháp TDBC được khẳng định là một phương pháp tư duy cao của con người, thể hiện sự đúng đắn và khoa học hơn hẳn so với phương pháp tư duy siêu hình. Trong nội dung của nghiên cứu còn chỉ ra rằng TDBC duy vật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc lý giải các vấn đề thực tiễn đặt ra trong lịch sử, nó giúp con người có cái nhìn hệ thống, khoa học và đúng đắn về sự ra đời, vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống.
Nhưng đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra sự phụ thuộc của TDBC duy vật vào chính các điều kiện và sự vận động của các hiện tượng kinh tế - xã hội… Alain Lau Rent trong Lịch sử cá nhân luận (người dịch: Phan Ngọc, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1990), từ góc nhìn triết học về con người như một bản thể và cá nhân như một bản ngã (cái Tôi cá thể, có cá tính, có bản sắc, tự biểu hiện như một nhân cách, có NLTD, có nhu cầu tự do để sáng tạo), đem lại lời giải thích khoa học về vai trò của cá nhân, như một học thuyết phát triển cá nhân, trong đó có phát triển NLTDBC. Ông khẳng định “cá nhân không đối lập lại xã hội mà đối lập lại cộng 8 đồng”. Ông cũng mô tả các cấp độ tham dự vào hệ chuyển đổi cá nhân luận, các chặng đường của quá trình cá nhân hóa. Tác phẩm này theo sát bối cảnh lịch sử xã hội của các thời đại gắn liền với thời đại Phục hưng và thời kỳ Khai sáng, với các cuộc cách mạng tư sản, các đường hướng vận động của chủ nghĩa duy lý và tự do, của các giá trị lý trí và nhân văn, năng lực của tư duy lý trí (phân tích - tổng hợp), các nhu cầu về tự do và phát triển.
Tác giả khẳng định cá nhân nhưng phê phán và phủ định “chủ nghĩa cá nhân”. Cần tới năng lực tư duy biện chứng để phân biệt “cá nhân luận triết học” với “chủ nghĩa cá nhân” thường hướng vào đạo đức, lối sống, sự ích kỷ, vụ lợi, suy đồi. Tác phẩm của Alain Lau Rent gợi mở nhiều điều có giá trị về phát triển cá nhân, cả chủ thể tư duy và chủ thể đạo đức, phân biệt cái tích cực (phát triển) với cái tiêu cực (dễ dẫn tới phản phát triển, sự biến dạng lệch lạc, sai lạc chuẩn mực và giá trị của nhân cách). Những kiến giải về lịch sử cá nhân luận giúp ích cho chúng ta trong nghiên cứu triết học về phát triển con người, trong tư cách cá nhân - cá thể đồng thời là chủ thể của nhân cách có tư duy biện chứng.
Edgar Morin với “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” (người dịch: Nguyễn Hồi Thủ, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008) chuyên bàn về nhận thức luận, triết học về nhận thức, về tư duy, giáo dục tư duy, phát triển trí tuệ với tư cách là phát triển con người có nhân cách. Tác giả chú tâm vào lĩnh vực sư phạm học sao cho nền giáo dục hiện đại phải làm cho “bộ óc (con người) phải được đào tạo tốt”, “biết nối liền các tri thức”, chú trọng giáo dục tư duy hệ thống, và cho rằng đây vẫn là chỗ yếu kém, thiếu hụt trong giáo dục, có tính phổ biến hiện nay. Để tránh những sai lầm và ảo tưởng xảy ra trong nhận thức, phải làm cho con người và nền giáo dục cho con người chú ý tới nhận thức về nhận thức. Tác giả cho rằng, muốn phát triển NLTDBC, giáo dục phải hướng tới giác ngộ “những nguyên tắc để có một nhận thức thích đáng”, phải “giảng dạy về hoàn cảnh”, nắm vững tương quan và những ảnh hưởng tương hỗ giữa các bộ phận và toàn thể trong một thế giới phức hợp.
Tác giả cũng gợi mở cho thấy, giáo dục và giảng dạy để phát triển con người trí tuệ còn phải chú trọng cả năng lực cảm xúc, phải “giảng dạy sự thông cảm”, đó là nhân tính, là văn hóa, cũng là đường hướng “nhân văn hóa giáo dục”. Vấn đề giáo dục TD và TDBC, sâu xa mà nói là vấn đề giáo dục văn hóa để hoàn thiện nhân cách. John Stuart Mill với tác phẩm“Bàn về Tự do” (người dịch: Nguyễn Văn Trọng, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2005. Đây là tác phẩm giữ vị trí quan trọng trong tư 9 duy lý luận và tư tưởng phương Tây.
Mill trình bày quan điểm của mình về tự do và đi sâu vào lĩnh vực tự do tư tưởng, tự do thảo luận. Đây là vấn đề gắn liền với dân chủ và sự định hình nhân cách. Giá trị và ý nghĩa thời sự của tác phẩm là ở chỗ, quyền tự do chính là điều kiện văn hóa cần thiết cho sự phát triển và bộc lộ tài năng của con người không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì lợi ích phát triển cộng đồng. Ở Việt Nam, trong bối cảnh đổi mới, tác phẩm giúp cho chúng ta cơ sở lý luận để hiểu rõ đổi mới tư duy, xây dựng TDBC, nhất là dân chủ hóa lĩnh vực văn hóa, tinh thần, giải phóng ý thức và thực hiện tự do tư tưởng.
Đây cũng chính là một điểm nhấn quan trọng của tác giả. Cuốn sách có giá trị trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển tư duy lý luận mà hạt nhân, cốt lõi của nó là năng lực TDBC. Edgar Morin với tác phẩm “Phương pháp 3” - tri thức về tri thức (Người dịch: Lê Diên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2006), trong đó đề cập đến sự hình thành tri thức luận phức hợp, đó là một nhiệm vụ lịch sử đối với mỗi người và đối với tất cả mọi người.
Đây là công trình đồ sộ gồm năm tập, xác định năm phương pháp: tự nhiên về tự nhiên (1); sự sống về sự sống (2); tri thức về tri thức (3); tư tưởng và sự liên kết tri thức (4); nhân loại về nhân loại (5). Cách tiếp cận mới mẻ và độc đáo này tạo khả năng gợi mở, đi sâu vào TD lý luận, TDBC. Phương pháp, theo E. Morin tuyệt nhiên không phải với nghĩa phương pháp luận.
Phương pháp là cái tự nó sinh ra, toát lên từ con đường tìm tòi nghiên cứu, mang tính khai phá và cách tân, do đó nó kích thích TD sáng tạo mà ta đang cần hướng tới. John Dewey với tác phẩm “Dân chủ giáo dục”, (Người dịch: Phạm Anh Tuấn, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008).