phần mở đầu, chúng ta cần nghiên cứu sâu hơn về áp kế pittông.2 - Giới thiệu chung - các dạng cơ bản Áp kế pittông dựa trên nguyên lý tải trọng trực tiếp, áp suất đo được so sánh với áp suất do tải trọng tạo ra trên tiết diện của pittông. Với nhiều tên gọi khác nhau như: Áp kế cân bằng, áp kế tải trọng pittông, … Cấu tạo chủ yếu của áp kế pittông là bộ đôi pittông – xilanh có diện tích mặt cắt ngang đã biết, ở đây lực hướng lên trên do áp suất, p, trong hệ thống được cân bằng bởi lực trọng trường hướng xuống dưới, W, do khối lượng đã biết của các quả cân tác động trên pittông – hình 2.1 (a) Chúng ta thấy rằng tính chất sử dụng của bộ đôi pittông xilanh để dưa ra giá trị áp suất bằng giá trị của lực trên một đơn vị diện tích và có thể thể hiện bằng một số cách khác nhau. Sự khác nhau chủ yếu của các dạng áp kế pittông là ở dạng thiết kế của bộ đôi hoặc cách bố trí tải trọng cân bằng. Tổng hợp các dạng áp kế pittông hiện nay đang sử dụng cùng với sự chia ra những loại khác nhau, thể hiện rõ trong bảng 2.
Có thể thấy áp kế pittông có ba loại chính theo cấu tạo của bộ đôi: Dạng đơn giản, dạng hiệu số và dạng khe hở điều chỉnh.2 tổng kết các dạng nguyên lý chung của các phương pháp khác nhau áp dụng cho tải trọng cân bằng. Dạng thiết kế pittông xi lanh kiểu đơn giản “simple” (hình 2.1 (a)), được sử dụng nhiều nhất. Sự tác động của dung dịch truyền áp suất vào đáy của pittông vào dọc theo chiều dài khống chế của pittông và xi lanh, do sự méo cơ khí dẫn đến sự 17 rò rỉ quá mức của dung dịch tại áp suất cao. Sự cân bằng áp suất như vậy chỉ có thể được sử dụng trong một dải áp suất giới hạn, mặc dầu với các thiết kế thích hợp chúng có thể được sử dụng đến áp suất khoảng 800 Mpa.
Thiết kế của các phương tiện đo áp suất cao thường khác nhau ở hai khía cạnh: thứ nhất khe hở bán kính giữa pittông và xi lanh về căn bản là nhỏ hơn, thường với sự vừa khít khi ở áp suất thấp; thứ hai tải trọng tác động tới pittông làm việc thông qua một pittông phụ đồng trục hình 2.1 (b) - sự bố trí này giảm mômen uốn có thể tác động đến pittông bởi tải trọng. Kỹ thuật này cũng áp dụng với các dạng khác của áp kế pittông. Loại áp kế pittông hiệu số: Pittông có thiết diện dạng bậc, áp suất tác dụng tác động vào phần hiệu của hai mặt cắt của pittông trên và pittông dưới. Loại áp kế pittông khe hở điều chỉnh, nhằm đối phó với vấn đề rò rỉ chất lỏng quá mức ở áp suất cao có hai thiết kế cơ bản đã được kể đến.
Loại thứ nhất cũng là dạng đơn giản nhưng được gọi là dạng “re-entrant” trong đó chất lỏng trưyền áp suất tác động không chỉ ở đấy pittông và dọc theo chiều dài khống chế của pittông và xilanh mà còn tác động trên cả bề mặt mở rộng của xilanh. Áp suất bên ngoài này làm co khe hở giữa pittông và xi lanh lại qua phần chiều dài khống chế điều này làm giảm sự rò rỉ dung dịch; dạng thiết kế điển hình được thể hiện trong hình 2. Giới hạn áp suất ở trên được xác lập bởi việc giảm khe hở đến mức vừa khít. 18 Trong dạng thiết kế thứ hai, một áp suất dung dịch có thể thay đổi được , p j, trong một hệ thống áp suất độc lập, tác dụng vào bề mặt bên ngoài của xi lanh, điều này tạo ra khả năng điều khiển khe hở giữa pittông và xi lanh, sự bố trí như vậy được thể hiện trong hình 2.3 Mặc dầu về nguyên lý thiết kế này sẽ bao phủ một dải áp suất rất rộng nhờ duy nhất một bộ đôi pittông xi lanh, nhưng trong thực tế, tốt hơn là sử dụng một loạt bộ đôi khác nhau để đạt được độ nhạy tốt nhất cho mỗi dải đo thực tế.
Dạng áp 19 kế pittông điều chỉnh khe hở được sử dụng hầu hết trong các ứng dụng với áp suất cao và không phổ biến trong thị trường, vì nó tạo ra nhiều khó khăn trong thao tác hơn là hai dạng trên. Áp kế pittông còn được phân ra thành hai loại chính dựa theo môi trường truyền áp, loại sử dụng dầu như là chất lỏng truyền áp suất, loại sử dụng không khí hoặc khí thích hợp như nitơ làm môi trường truyền áp. Các dạng sau đôi khi kết hợp với khả năng tạo chân không môi trường không gian xung quanh bộ đôi pitông – xilanh, điều này cho phép sử dụng chúng để đo áp suất tuyệt đối cũng như là đo áp suất dư. Nhiều dạng áp kế pittông sử dụng dầu được thương mại hoá, được cung cấp ở dạng đồng bộ hệ thống kiểm tra áp suất, thường được gọi là dead –weiht tester có cấu tạo chung bao gồm bơm mồi, một bình chứa dầu, một bộ nén trục vít (thể tích thay đổi), một bộ đôi pittông – xilanh và một đầu ra để có thể lắp các đồng hồ cần kiểm tra, tất cả các chi tiết được lắp đặt trong một khối với các hệ thống ống và van.
Tại các giá trị áp suất trên một vài Mpa, dầu nhìn chung là môi trường truyền áp suất thích hợp với lý do an toàn và bởi vì sự gia tăng rò rỉ khi sử dụng khí. Vấn đề sau đã được tính đến bởi một số nhà sản xuất bằng cách cung cấp dầu bôi trơn bộ đôi pittông – xilanh, hoặc dầu được cung cấp trực tiếp vào vùng vành khăn (từ thành của xilanh) với một lượng nhỏ, hoặc bởi sự kết hợp một mặt phân cách dầu khí đối với các bộ phận chính của bộ đôi. 20 Dạng Miêu tả Nguyên lý làm việc Sơ đồ Ghi chú mẫu khối I(A) Upright Áp suất tác dụng vào mặt Sử dụng phổ biến, Đơn cắt phía dưới của chi tiết dùng dầu hoặc khí giản bên trong (pittông) Inverted Áp suất tác dụng vào mặt Hạn chế sử dụng cắt phía trên của chi tiết trong các PTĐ dùng I(B) bên ngoài (xilanh) khí Đơn Manom Áp suất tác dụng vào mặt giản etric cắt phía trên của chi tiết Đo tổng áp suất, áp bên trong (pittông) suất tác dụng nhỏ hơn áp suất khí I(C)đơn quyển, hạn chế sử giản dụng trong các PTĐ dùng khí II Hiệu Áp suất tác dụng vào Chủ yếu sử dụng số hiệu mặt cắt của pittông trong nghiên cứu trên và dưới III (A) Re – Như I (A) nhưng áp suát Có thể sử dụng trong Khe hở entrant tác dụng cả vào bề mặt một dải rộng áp suất điều mở rộng của xilanh vì kết quả của sự giảm chỉnh khe hở khi tăng áp III(A) Controlled Như I(A) nhưng áp suất suất Khe hở clearance tác dụng được điều khiển Có thế sử dụng trong điều độc lập tác dụng vào bề một dải rộng áp suất chỉnh mặt mở rộng của xilanh vì kết quả của sự điều khiển khe hở 21 Bảng 2. Các dạng bố trí tải trọng Dạng Miêu tả Nguyên lý làm việc Sơ đồ Ghi chú mẫu khối I (P) Trực tiếp Quả cân tải trọng được Sử dụng rất phổ biến Tải tải trọng xếp trên một đĩa được gá trực trên đỉnh chắc trên đỉnh của chi tiếp tiếp nổi I(Q) Tải trọng Sử dụng trong một số Tải ở mức Quả cân tải trọng được dạng thực tế trực thấp của xếp trên một đĩa gá chắc tiếp đỉnh vào chi tiếp nổi nhưng ở I(R) Tải trọng mức thấp Hạn chế sử dụng trong Tải treo Quả cân tải trọng được dạng I (C) và II trực xếp trên một đĩa được tíêp treo vào chi tiếp nổi II Tải Phần đỡ Quả cân tải trọng được Rất hay sử dụng, trọng trực mô lên xếp trên một đĩa ở cuối tâm của tải trọng sẽ tự tiếp trên: cơ phần đỡ tỳ vào pittông điêu chỉnh về trục của cấu lắc bởi bi và gối tựa côn bộ đôi III Tải Như kiểu I (P) hoặc Q Được sử dụng nhiều trực nhưng quả cân tải trọng hơn so do có một số tiếp được đặt trên chi tiết thuận lợi không quay IV Tải Nhân Tải trọng cân bằng được Cho phép sử dụng với gián cách tay nhân với cánh tay đòn khối lượng nhỏ; nhưng tiếp đòn không phổ biến IV (Q) Khuyếch Tải trọng cân bằng qua Chủ yếu sử dụng cho Tải đại dung dịch áp suất cao từ thiết bị dải làm việc gián hệ thống khuyếch đại rất cao tiếp 22 II.3 - Những tính chất và lý thuyết cơ bản của áp kế pittông a) Giới thiệu Lý thuyết cơ bản của áp kế pittông áp dụng trực tiếp những định luật thông thường của thuỷ động, khí động, tuỳ thuộc vào tính chất của môi trường làm việc.
Đối với mục đích trước mắt, chúng ta chấp nhận quy ước rằng điều kiện cân bằng là ở đó pittông giả thuyết là được tự do khỏi các ràng buộc khác nổi lên ở mức xác định. Về phương diện thứ nguyên của của áp suất từ lực là: ML-1 T-2 và MLT-2, điều này có thể thấy rõ rằng có thế suy ra áp suất từ lực cân bằng bằng cách chia cho số có thứ nguyên là L 2 có nghĩa là diện tích. Con số này được gọi là diện tích hiệu dụng (effective area) của bộ đôi pittông – xilanh, nó được hiểu ngắn gọn là không bằng diện tích mặt cắt ngang của pittông hoặc của bất kỳ thành phần thực tế nào củ bộ đôi mà là một hàm của kích thước cả pittông và xilanh. b) Diện tích hiệu dụng đối với mô hình lý tưởng Trong mô hình này pittông và xi lanh được tưởng tượng có hình dạng bề mặt trụ thẳng và nhãn, lắp khít với nhau trong chiều dài khống chế, l,tiết diện dọc trục hình tròn có bán kính không đổi là r và R và trục của chúng trùng với trục thẳng đứng.
Hệ thống này được trình bày minh hoạ ở hình 2.4 tương ứng với kiểu bộ đôi pittông – xilanh kiểu đơn giản, môi trường truyền áp là dầu Xem xét một số sự khác nhau xuất hiện khi mà đường kính phụ thuộc vào vị trí trục sẽ được đề cập trong mục 2.3 Áp suất chất lỏng, p1, sẽ đo được và được cung cấp từ bơm nén thích hợp tác động đến đáy của pittông, tại mức x=0, trong khi đó đỉnh của pittông, tại mức x=l, sẽ là không khí, hoặc môi trường khác, áp suất p2. Với quy định chung chúng ta sẽ sử dụng ký hiệu Π1, Π2 cho áp suất môi trường không khí tại mức tương tự như là p1,p2, vì vậy nhìn chung Π1,p 2 sẽ bằng nhau.