CHƯƠNG 1 HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN PHÂN TÁN.1 Tổng quan về tự động hóa quá trình sản xuất và các hệ điều khiển.1 Tự động hóa quá trình sản xuất. Hệ thống điều khiển, điều hành và quản lý sản xuất được phân chia thành nhiều cấp. Do vậy, hệ thống tự động hóa quá trình sản xuất cũng được phân chia thành nhiều cấp và một hệ thống tự động hóa quá trình sản xuất tiêu biểu thường bao gồm 5 cấp như trên Hình 1-1. Cấp Workstation, quản lý PC, Servers công ty 4.
Cấp quản lý Workstation, nhà máy PC, Servers Workstation, 3. Cấp giám sát - chỉ huy PC Controllers, 2. Cấp điều khiển PLC, CNC, PC Controllers, 1. Cấp trường (cảm biến - chấp hành) sensors, actuators Hình 1-1.
Sơ đồ phân cấp hệ thống điều khiển tự động hóa quá trình sản xuất 2 Đặc điểm của các cấp này như sau: Cấp thứ nhất: là cấp cảm biến – chấp hành hay cấp trường. Nó thực hiện kết nối các bộ điều khiển, cảm biến và các cơ cấu chấp hành. Cấp thứ hai: là cấp điều khiển (phân xưởng) thực hiện việc điều khiển các quá trình công nghệ và thực hiện việc kết nối các bộ điều khiển, thiết bị điều khiển logic khả trình PLC, thiết bị điều khiển quá trình công nghệ trong máy điều khiển số CNC hoặc các máy tính PC công nghiệp. Cấp thứ ba: là cấp vận hành, giám sát chỉ huy và thực hiện chức năng vận hành giám sát và điều khiển chi huy cho quá trình công nghệ.
Tại cấp thứ ba này thực hiện các chức năng giao diện người – máy, lưu trữ các số liệu liên quan tới sản xuất, ra các lệnh, thiết lập cấu hình và thay đổi chế độ làm việc cho quá trình công nghệ, máy sản xuất,. Thiết bị trong cấp thứ ba này là các máy trạm làm việc, các máy tính PC. Các cấp 1, 2 và 3 là các cấp trực tiếp thực hiện quá trình công nghệ. Cấp thứ tư: là cấp quản lý nhà máy và thực hiện phối hợp nhiều nhiệm vụ quản lý khác nhau như quản lý kỹ thuật, quản lý sản xuất, quản lý nguồn lực,.
Cấp thứ năm: là cấp quản lý công ty và nó thực hiện kết nối và phối hợp các hoạt động quản lý khác nhau trên mọi nhà máy, chi nhánh và văn phòng công ty tại nhiều thành phố và quốc gia khác nhau. Trong sơ đồ phân cấp của hệ thống tự động hóa quá trình sản xuất thì các cấp 1, 2 và 3 là các cấp trực tiếp thực hiện quá trình công nghệ và hệ thống điều khiển tự động áp dụng cho các cấp này còn được gọi là hệ thống tự động hóa quá trình công nghệ còn các cấp thứ 4 và thứ 5 thực hiện chức năng quản lý và hệ thống tự động hóa áp dụng cho hai cấp này được gọi là hệ thống tự động hóa điều hành và quản lý sản xuất.2 Sự ra đời và phát triển của các hệ thống điều khiển Mục tiêu của hệ thống tự động hóa quá trình sản xuất là để đảm bảo họat động an toàn và kinh tế. Trong hầu hết các nhà máy công nghiệp hiện nay đều có một số loại bộ điều khiển nhất định. Ở cấp độ đơn giản nhất, có thể chỉ bao gồm một động cơ điện truyền động cho một chiếc quạt làm mát để điều khiển nhiệt độ trong phòng.
Ở dạng phức tạp hơn đó có thể là một lò phản ứng hạt nhân tạo ra điện năng cung cấp cho nền kinh tế. Bên cạnh quy mô và độ phức tạp, tất cả các hệ thống điều khiển đều được chia ra thành ba phần theo chức năng: thiết bị đo, bộ điều khiển và cơ cấu chấp hành. Bộ điều khiển giám sát các thông số trạng thái của các quá trình trong nhà máy thông qua các thiết bị đo. Thiết bị đo có chức năng chuyển đổi thông tin vật lý thành tín hiệu điện và đưa vào đầu vào của bộ điều khiển.
Dựa trên trạng thái từ các đầu vào, bộ điều khiển sử dụng các thuật toán đã được chương trình hóa để tính toán cho tín hiệu ra điều khiển các cơ cấu chấp hành. Tùy thuộc yêu cầu của công nghệ, mức đầu tư và trình độ ứng dụng mà các hệ thống điều khiển khi đưa vào thực tế cũng có nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên bất cứ một hệ thống điều khiển nào đều có các mục đích chung như sau: • An toàn cho con người và thiết bị trong hoạt động sản xuất • Vận hành tin cậy, kinh tế • Nâng cao chất lượng, năng suất • Tăng sản lượng Những hệ thống điều khiển đầu tiên đã ra đời trong cuộc Cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XIX. Chức năng điều khiển được thực hiện thông qua các thiết bị cơ khí tinh xảo như các cơ cấu van chương trình, thực hiện tự động hóa cho một vài công đoạn quan trọng, phức tạp và có tính lặp đi lặp lại trong các dây chuyền.
Các thiết bị này thường được thiết kế cho từng ứng dụng cụ thể riêng biệt. Đầu thế kỷ 20 các đèn điện tử và khuếch đại điện tử bắt đầu xâm nhập vào công nghiệp đã làm cho dây chuyền sản xuất tự động đỡ cồng kềnh hơn. Thiết bị tự động 4 điển hình trong thời gian này là các bộ điều khiển dùng đèn điện tử, các thiết bị đo và điều khiển được tổ hợp là điện thế kế tự động ghi, các rơle thời gian điện tử… Vào cuối những năm 1960 đầu những năm 1970 điện tử công suất, vi mạch điện tử đặc biệt là bộ vi xử lý 4 bit, 8 bit ra đời đã thay đổi rất nhiều về các thiết bị điều khiển. Các bộ điều khiển tương tự, bộ điều khiển số, thiết bị điều khiển số lập trình 4 bit.
Nhờ tiến bộ kỹ thuật này hệ điều khiển đã có cải thiện rõ rệt, gọn nhẹ và tính năng giám sát vận hành tập trung đã bắt đầu xuất hiện. Điển hình về các công nghệ mới giai đoạn này ở Việt Nam là các dây chuyền tự động Xi măng Hoàng Thạch, giấy Bãi Bằng, nhiệt điện Phả Lại (dây chuyền 1). Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 do tính năng vi xử lý và vi điều khiển được nâng cao nên đã xuất hiện các thiết bị điều khiển mạch là PLC (thiết bị điều khiển logic lập trình) cho điều khiển logic. Các hệ DCS cho các thiết bị điều khiển có các mạch vòng tín hiệu liên tục.
Vào giữa thập kỷ 90 thể kỷ 20 hệ điều khiển DCS và thiết bị điều khiển PLC được kết nối với quá trình sản xuất và Trung tâm giám sát vận hành qua các đường truyền thông. Ta có hệ điều khiển tự động hoá hoàn chỉnh như ngày nay. Đến những năm cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 đã chứng kiến một xu hướng mới trong quan điểm về các hệ điều khiển. Giờ đây ranh giới giữa các hệ điều khiển ngày càng bị lu mờ và ngày càng xuất hiện thêm nhiều hệ thống điều khiển mới nhằm đáp ứng như cầu của các công nghệ sản xuất như: hệ điều khiển lai (Hybrid Control System), hệ điều khiển bằng máy tính (Computer Based),.
Những năm này cũng chứng kiến sự ra đời của hàng loạt tiêu chuẩn trong điều khiển như tiêu chuẩn về ngôn ngữ lập trình, tiêu chuẩn truyền thông, tiêu chuẩn về giao diện đã mang các hệ điều khiển lại gần nhau hơn, phá bỏ thế độc quyền của các nhà cung cấp giao diện trước đó, tạo sự thuận lợi lớn cho khách hàng. Xu thế của các hệ thống điều khiển hiện nay là giảm thiểu chi phí phần cứng, tăng cường áp dụng các thuật toán, cấu trúc điều khiển hiện đại, tiến tiến như điều 5 khiển mờ, điều khiển nơron, điều khiển theo mô hình dự báo. vào trong công nghiệp nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng và tiết kiệm năng lượng.3 Điều khiển tập trung và điều khiển phân tán Có rất nhiều định nghĩa về hệ điều khiển phân tán, hầu hết các nhà cung cấp giải pháp điều khiển, các nhà tích hợp hệ thống đều có những định nghĩa cho riêng mình về điều khiển phân tán. Các định nghĩa có sự khác nhau về cách trình bày nhưng các định nghĩa đều xuất phát từ cấu trúc phần cứng, phân bố chức năng điều khiển, quản lý, cơ sở dữ liệu, tính mở rộng, độ sẵn sàng, độ tin cậy,.
của hệ thống. Dưới góc độ của các nhà nghiên cứu và các nhà kỹ thuật trong lĩnh vực điều khiển thì khái niệm “điều khiển phân tán” được sử dụng để phân biệt với điều khiển tập trung truyền thống. Về mặt nguyên tắc, việc điều khiển một đối tượng, một nhóm đối tượng có liên quan đến nhau hay một quá trình cần phải được xem xét dưới góc độ của hệ thống nhiều đầu vào - nhiều đầu ra (hệ MIMO). Nói cách khác chiến lược điều khiển phải tập trung và cơ sở dữ liệu quá trình cần phải thống nhất để đảm bảo khả năng đáp ứng tốt nhất đối với yêu cầu công nghệ.
Tuy nhiên cách thức thực hiện chiến lược điều khiển được tập trung hóa này có nhiều phương án khác nhau và mỗi cách thực hiện có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Trong các hệ thống điều khiển theo phương án tập trung, mọi quá trình tính toán thực hiện chiến lược điều khiển được thực hiện trên một hệ xử lý trung tâm. Phương án điều khiển tập trung này có ưu điểm là hệ cơ sở dữ liệu quá trình thống nhất, tập trung và do vậy ta có thể thực hiện các thuật toán điều khiển để điều khiển quá trình công nghệ một cách tập trung và thống nhất. Nhược điểm của phương án điều khiển tập trung là khi đối tượng điều khiển nhiều, phức tạp có thể dẫn tới khối lượng tính toán lớn và các hệ xử lý không đáp ứng được yêu cầu tính toán của hệ thống.
Một nhược điểm nữa là trong phương án điều khiển tập trung các giá trị đo lường phải tập trung về 6 máy tính điều khiển dẫn tới khối lượng dây dẫn lớn làm tăng chi phí, khó khăn cho công tác bảo trì và sửa chữa. Khác với phương án điều khiển tập trung, điều khiển phân tán có quá trình tính toán điều khiển là quá trình tính toán phân tán. Có nghĩa là quá trình tính toán điều khiển được thực hiện trên nhiều hệ xử lý và hệ cơ sở dữ liệu quá trình có thể tập trung hoặc phân tán trên các hệ xử lý này nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất, do đó có thể phân tán được rủi ro và phân tán được tài nguyên.