CHƯƠNG 1 THUỶ LỰC CÔNG NGHIỆP 1. Lịch sử hình thành Từ “thuỷ lực” có nguồn gốc từ hai từ Hy Lạp "udor" và "aulos" có nghĩa là nước và ống. Thật vậy, nguyên lý chủ yếu của thuỷ lực lừ sử dụng dòng chảy để truyền năng lượng thuỷ lực là nước. Nhưng khi sử dụng dầu khoáng, người ta gọi đó là "oléo-thuỷ lực" nhưng từ này chỉ được sử dụng khi nói về vấn đề truyền năng lượng và áp suất trong các lưu chất ở trạng thái tĩnh.
Tuy nhiên trong thuỷ lực người ta phải tính đến hiện tượng của các dòng chảy trong một hệ thống thiết bị, vì vậy để đơn giản hoá trong vấn đề ngôn ngữ, từ THUỶ LỰC ra đời để nghiên cứu các quy luật của dòng chảy. Nhìn lại lịch sử các đây 5000 năm, Người Trung quốc và người Ai Cập đã biết sử dụng cơ cấu thuỷ lực để làm các bánh xe nước. Như vậy hệ thống dẫn nước từ xa xưa cơ thể xem là những ứng dụng đầu tiên của thuỷ lực Vào thể kỷ thứ III trước công nguyên, Archimède đưa phát minh ra bơm nước đầu tiên, đó là bơm vít Archimède. Mãi cho đến thế kỷ thứ XV mới có các bản vẽ về máy thuỷ lực của Léonard de Vinci và sau đó phải đợi đến thế kỷ XVII mới có những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đầu tiên của Torricelli, Mariotte và Pascal.
Ngày nay Pascal được coi là cha đẻ của nghành thuỷ lực vì ông đã tìm ra định luật căn bản của thuỷ lực là "Nguyên lý Pascal". Sau này, Newton đã tiến thêm một bước nữa để tìm ra độ nhớt và nhiều nguyên lý khác , nhất là định luật về ma sát của chất lỏng trong chuyển động. M¸y vµ tù ®éng thuû khÝ 2006-2008 LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc 13 §¹i Häc B¸ch Khoa Hµ Néi Vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, Bernouilli và Euler đã đặt những nền móng căn bản toán học cho các nghành khoa học mới : là Cơ học chất lỏng và thuỷ lực. Việc nghiên cứu căn bản vẫn được tiếp tục, tuy nhiên phải đợi đến năm 1795 người ta mới nhận thấy được những ứng dụng của nguyên lý Pascal nhờ vào việc chế tạo thành công máy ép thuỷ lực đầu tiên của một người anh có tên là Bramal.
Vào khoảng năm 1850, Armstrong đã chế tạo thành công một cần cẩu thuỷ lực, ngoài ra còn chế tạo ra bộ tích năng thuỷ lực. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với những bước tiến nhảy vọt của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hàng loạt các bằng sáng tạo đã ra đời và được ứng dụng rộng rãi trên các máy ép, tời. 1910 : Chế tạo thành công loại bơm quay đầu tiên. 1920 : Xuất hiện những máy công cụ đầu tiên có bộ điều khiển bằng thuỷ lực.
Những lý thuyết căn bản mới nhất được tìm ra là những nguyên lý được phát hiện vào đầu thế kỷ XX (Định lý Stokes, Reynolds,. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, nền công nghiệp hoá sử dụng các máy móc thuỷ lực có một vị trí rất quan trọng. Vào thế kỷ XX, việc sử dụng các máy thuỷ lực đã trở nên rất thông dụng (máy rèn , máy ép, luyện gang .), máy công cụ, máy tự động và trong lĩnh vực hàng không,. Vào năm 1972, kỹ thuật thuỷ lực tỷ lệ xuất hiện.
Nó cho phép kết hợp dễ dàng giữa phần điều khiển điện tử và các cơ cấu chấp hành của hệ thống thuỷ lực (xilanh, động cơ). Kỹ thuật thuỷ lực cho đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi là vì chúng có công suất lớn, đồng thời lại bảo đảm được độ chính xác khi thực hiện công việc, không những thế việc điều khiển lại nhẹ nhàng mà kết quả đạt được nhờ những máy có kỹ thuật tự động hoá cao lại rất hiệu quả. M¸y vµ tù ®éng thuû khÝ 2006-2008 LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc 14 §¹i Häc B¸ch Khoa Hµ Néi Ngày nay người ta cũng không sử dụng loại dầu khoáng nguyên chất nữa, mà thêm vào đó là các chất phụ gia. Người ta cũng sử dụng các loại dầu tổng hợp để phục vụ cho các ứng dụng đặc biệt.
Hệ thống thuỷ lực truyền thống Hệ thống thuỷ lực truyền thống được phát triển với mục đích là truyền và kiểm soát năng lượng thuỷ lực trong một khoảng cách nhất định thông qua đường ống. Hệ thống này là sự kết hợp các thiết bị và phần tử thuỷ lực theo một sơ đồ mạch nhất định để thực hiện các chuyển động mong muốn. Đồng hành với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các thiết bị thuỷ lực ngày càng đa dạng và hiện đại. Cụ thể là hệ thống nguồn thuỷ lực đã được cải tiến rõ dệt, chủng loại bơm thuỷ lực rất phong phú từ những loại bơm cổ điển đến những loại bơm hiện đại như bơm tự động điều chỉnh lưu lượng theo tỷ lệ.
Các thiết bị như van phân phối, van một chiều, van áp suất đã có thêm nhiều tính năng điều khiển hơn, nổi bật là tính năng điều khiển theo tỷ lệ, servo. Sử dụng các thiết bị thuỷ lực có thể chuyển đổi được các loại năng lượng. Sự chuyển đổi giữa các lại năng lượng được miêu tả trong hình (1.1: Sơ đồ chuyển đổi năng lượng Điện - Cơ - Thuỷ khí Nguyên lý làm việc của hệ thống thuỷ lực là năng lượng của dòng chất lỏng được cấp qua bơm từ một trạm nguồn, chất lỏng này được vận chuyển M¸y vµ tù ®éng thuû khÝ 2006-2008 LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc 15 §¹i Häc B¸ch Khoa Hµ Néi trong đường ống tới các cơ cấu chấp hành, sau đó dầu sẽ được hồi trở về thùng chứa. Các cơ cấu chấp hành được vận hành bằng các van phân phối để có thể dễ dàng thay đổi chiều chuyển động.
Ta có thể dễ dàng thay đổi được áp suất và lưu lượng trong hệ thống và thế các hệ thống thuỷ lực thường có công suất lớn vì ta có thể tạo được áp suất lớn trong hệ thống. Với nguyên lý làm việc đơn giản như vậy, có thể chia hệ thống thuỷ lực thành hai loại chính: Hệ thống thuỷ lực hở và hệ thống thuỷ lực kín. Mỗi loại mạch này có những ưu nhược điểm riêng và được áp dụng trên các máy móc khác nhau. Hệ thống thuỷ lực hở Trong công nghiệp ta thường gặp các mạch hở trong các hệ thống điều khiển xilanh, tuy nhiên mạch này cũng được sử dụng để điều khiển động cơ thuỷ lực.
Trong mạch hở, dòng chất lỏng là dầu thuỷ lực chỉ đi theo một chiều nhất định: Dầu được bơm hút từ bể chứa lên đường ống đẩy qua các van phân phối, các van điều chỉnh áp suất, lưu lượng đến cơ cấu chấp hành, sau đó nó được hồi về bể qua đường ống hồi. Lượng dầu rò rỉ thường được dẫn về bể theo một đường riêng. Sơ đồ mạch hở đơn giản được thể hiện ở hình (1.2) dưới đây: Đối với các máy hoạt động bằng hệ hở, có thể dễ dàng nhận thấy kết cấu máy kồng kềnh vì hầu hết các máy phải trang bị bể dầu cho trạm nguồn thuỷ lực. Việc di chuyển máy rất khó khăn.
Tuy nhiên nó có một số ưu điểm nổi bật sau: + Công suất của hệ thống này thì lại rất lớn vì có thể dễ dàng điều chỉnh áp suất và vận tốc trong một khoảng rất rộng. + Do có bể dầu nên dầu thường xuyên được làm mát, dễ dàng tách được cặn bẩn, bọt khí… do đó máy hoạt động ổn định và tuổi thọ của máy tăng lên. M¸y vµ tù ®éng thuû khÝ 2006-2008 LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc 16 §¹i Häc B¸ch Khoa Hµ Néi + Tháo lắp và bảo dưỡng thiết bị dễ dàng hơn ? ? ? ? Hình 1.2: Hệ thống thuỷ lực mạch hở 1. Hệ thống thuỷ lực kín Đây là một hệ thống kín, trong đó dầu được vận chuyển trong một chu trình kín từ bơm đến cơ cấu chấp hành sau đó trở lại cửa hút của bơm.
Mạch kín loại này thường được thiết kế để lắp trên các loại xe cơ giới và xe máy công trình. Mạch kín thường được dùng để điều khiển động cơ thuỷ lực, công suất của hệ thống không thể lớn hơn công suất của hệ thuỷ lực hở. Vì trong mạch không được trang bị bể dầu cho nguồn nên việc thay đổi áp suất và lưu lượng là khó khăn hơn rất nhiều. Việc làm mát hệ thống sẽ trở nên khó khăn hơn.
Nhưng kết cấu của mạch rất gọn, lượng dầu sử dụng cho hệ thống không lớn, dễ dàng di chuyển hệ thống. M¸y vµ tù ®éng thuû khÝ 2006-2008 LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc 17 §¹i Häc B¸ch Khoa Hµ Néi Trong tất cả các hệ thống thuỷ lực kín cần phải lắp thêm hệ thống bù dầu trong quá trình làm việc. Hệ thống kín cơ bản được miêu tả trong hình (1.3: Hệ thống thuỷ lực kín Đối với hệ thuỷ lực kín, việc tháo lắp và bảo dưỡng thiết bị trở nên khó khăn hơn, giá thành của hệ thống này cũng rất cao. Chính vì vậy khi chọn lựa hệ thống thuỷ lực phù hợp, cần phải dựa vào nhiều yếu tố khác nhau như: điều kiện làm việc, công suất hệ thống… 1.
Ưu nhược điểm của hệ thống thuỷ lực Với các máy sử dụng năng lượng thuỷ lực cho việc truyền công suất, ta có thể nhận thấy một số ưu nhược điểm sau: Ưu điểm. • Công suất: So với các năng lượng khác (điện, cơ khí, khí nén), thiết bị thuỷ lực có cùng kích thước nhưng lại cho công suất lớn hơn. M¸y vµ tù ®éng thuû khÝ 2006-2008 LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc 18 §¹i Häc B¸ch Khoa Hµ Néi • Sử dụng nhẹ nhàng: Sự đa dạng của các thiết bị thuỷ lực cho phép tạo ra các chuyển động tịnh tiến và chuyển động quay dễ dàng. Dễ dàng thay đổi chiều chuyển động, vận tốc làm việc, tải trọng làm việc, chu kỳ… • Lực và mô men lớn: Làm việc với áp suất lớn (vài trăm bar) sẽ tạo ra các lực lớn.
Với các động cơ thuỷ lực thì mô men rất lớn. • Điều chỉnh đơn giản: Trong hệ thống thuỷ lực có thể dễ dàng điều chỉnh áp suất để đạt được lực như ý muốn. Có thể nhận được các vận tốc khác nhau và đều để điều khiển hàng loạt các ứng dụng đòi hỏi sự chính xác (đồ gá, gia công…) Kỹ thuật thuỷ lực tỷ lệ cho phép điều chỉnh lực lớn, vận tốc nhỏ trong hệ thống thuỷ lực mà chỉ cần những tín hiệu điện nhỏ. • Tính không nén được: Tại áp suất dưới 350 bar dầu thuỷ lực được xem là không nén được.
Điều này cho phép + Dừng các chuyển động một cách tức thời và chính xác.