CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu về đào tạo theo tiếp cận CDIO Đào tạo theo tiếp cận CDIO là một dự án quốc tế lớn nhằm cải cách chương trình đào tạo kỹ thuật bậc đại học được khởi xướng vào tháng 10 năm 2000. Dự án này, có tên gọi là Đề xướng CDIO, đã được mở rộng để bao gồm các chương trình kỹ thuật trên toàn thế giới. Từ khi ra đời, tiếp cận này nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên trên thế giới và tại Việt Nam.
Nghiên cứu ngoài nước Östlund và cộng sự (2007) [111] nghiên cứu từ thành công trong năm đầu tiên áp dụng đào tạo CDIO với ngành Kỹ thuật giao thông tại Học viện Hoàng gia Công nghệ Stockholm (Stockholm Royal Institute of Technology), nhận định chương trình đào tạo CDIO là “liên tục cải tiến với định hướng giá trị cuộc sống và nguyên tắc”. Khái niệm “định hướng giá trị cuộc sống và nguyên tắc” sử dụng trong nghiên cứu này ngược lại với khái niệm truyền thống “định hướng bằng kết quả” [111]. Với định hướng giá trị cuộc sống và nguyên tắc, chương trình đào tạo CDIO thúc đẩy SV liên tục tư duy để kiến tạo, hoàn thiện sản phẩm và hệ thống từ khi có ý tưởng với sản phẩm đến việc đưa ra sản phẩm, vận hành, bảo trì, khấu hao và đến khi sản phẩm, hệ thống không còn sử dụng. Chi tiết hóa khái niệm định hướng giá trị cuộc sống và nguyên tắc này trong thay đổi sang đào tạo CDIO, các tác giả đưa ra mô hình “ngôi nhà giáo dục (educational house)” như hình 1.
Tiếp tục cải tiến Điều chỉnh từ Yêu cầu dựa nhận định của Chương trình đào tạo theo kết quả bản thân CDIO cuối cùng Trạng thái bình thường – Tiêu chuẩn hóa cách làm việc SV liên học Kiến thức & Tuân theo Giá trị Nguyên tập liên tục Kỹ năng trong thực tế cuộc Ngẫm nghĩ tắc Hình dung công việc sống Công nghệ và khoa Tôn trọng bản thân và Loại bỏ sản phẩm học cho một xã hội thế giới xung quanh không giá trị tiến bộ hơn Hình 1.1: Mô hình “Ngôi nhà giáo dục” theo định hướng giá trị cuộc sống và nguyên tắc (Nguồn: Östlund và cộng sự, 2007) [111]. 13 Nghiên cứu của Hallenga-Brink và Kok (2016) [73] trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu về những giá trị của CTĐT theo tiếp cận CDIO đem lại cho ngành đào tạo, những tiêu chuẩn của CTĐT theo tiếp cận CDIO ưu tiên thực hiện và ngành đào tạo cần sự đóng góp nào của công nghệ và xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CTĐT theo tiếp cận CDIO giúp SV được đánh giá cao hơn trên thị trường việc làm quốc tế, việc cùng thực hiện của 12 ngành cũng giúp các SV có một bảng đánh giá kỹ năng thực hành thống nhất và ngôn ngữ sử dụng nhất quán giữa các ngành tạo nhiều thuận lợi hơn cho việc tiếp thu kiến thức và nắm được cấu trúc của các CTĐT [73]. Tuy nhiên, do vẫn còn những điểm chưa thống nhất về tính cấp thiết của việc thay đổi CTĐT, việc nghiên cứu này vẫn cần thực hiện sâu hơn.
Các tác giả Martin và Wackerlin (2016) [103] tiến hành một nghiên cứu tình huống tại Học viện Công nghệ và Giảng dạy Cao cấp Sheridan Canada (Sheridan College Institute of Technology and Advanced Learning) để xem xét việc áp dụng mở rộng mô hình đào tạo theo CDIO với những chuyên ngành gần với ngành công nghệ. Kết quả thực hiện CTĐT theo tiếp cận CDIO với năm chương trình phi công nghệ được so sánh với kết quả cùng thực hiện cho một ngành công nghệ. Martin và Wackerlin thực hiện ba ma trận sắp xếp kết quả học tập và những đặc điểm của các ngành phi công nghệ so sánh với các tiêu chuẩn CDIO dựa trên mô hình khung giảng dạy của UNESCO [103] để tìm kết quả cho nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có những khác biệt nhất định giữa CTĐT theo tiếp cận CDIO với CTĐT của các ngành phi công nghệ như: CTĐT theo tiếp cận CDIO quan tâm vào việc giao tiếp, ứng xử trong khi CTĐT khác tập trung vào toán học.
Khác biệt thứ hai có sự tác động rất mạnh mẽ của các bên liên quan bên ngoài chương trình, cụ thể là các doanh nghiệp xã hội có nhu cầu sử dụng nhân lực được đào tạo, đến CTĐT theo tiếp cận CDIO bao gồm cả việc đưa vào chương trình hay loại ra khỏi chương trình những kỹ năng, kiến thức nhất định [103]. Nghiên cứu cũng cho thấy mô hình đào tạo theo CDIO có thể áp dụng cho các ngành phi công nghệ, tuy nhiên không thể rập khuôn mà cần được xem xét đến những tính chất đặc thù của ngành được đào tạo. Nghiên cứu này có giá trị cao khi sử dụng các ma trận để so sánh việc sử dụng CTĐT theo tiếp cận CDIO với các ngành khác nhau, đặc biệt hơn khi áp dụng mô hình khung giảng dạy của UNESO để có một thang đo chính xác hơn. 14 Kuptasthien và cộng sự (2018) [85] đưa ra mô hình áp dụng chương trình đào tạo theo CDIO cho ngành công nghệ và phi công nghệ tại trường đại học Công nghệ Rajamangala, Thái Lan (Rajamangala University of Technology Thanyabury) để so sánh tác động của CTĐT này khi áp dụng cho các ngành học trên.
Ba mươi bốn (34) chương trình đào tạo cử nhân (sáu ngành công nghệ và 28 ngành phi công nghệ) được xem là đối tượng cho nghiên cứu này và tất cả các CTĐT cho các ngành trên đều được thiết kế lại theo chủ trương của toàn trường. Đặc điểm áp dụng triết lý CTĐT theo tiếp cận CDIO tại trường ĐH Công nghệ Rajamangala là đào tạo phải phù hợp với Khung chất lượng giảng dạy Thái Lan (Thai Qualification Framework).2 dưới đây trình bày quy trình tích hợp triết lý giáo dục CDIO với các thể chế giáo dục của trường đại học Công nghệ Rajamangala, Thái Lan. Xác định năng lực Phân tích mới cần đào tạo STEEP Xây dựng kỹ năng Chương trình Chương trình Khảo sát các thực hành CDIO tích hợp bên Xác định tính cách Phân tích STEEP SV cần Khung chất lượng đào tạo Xác định công việc sau khi tốt nghiệp Tiêu chuẩn Công nhận Xác định chuẩn đầu ra chương trình Hình 1.2: Mô hình thiết kế chương trình đào tạo tích hợp CDIO và các thể chế giáo dục của trường đại học Công nghệ Rajamangala (Nguồn: Kuptasthien và cộng sự, 2018) [85] Nhà nghiên cứu Wang và cộng sự (2018) [136] thực hiện nghiên cứu tại trường đại học Feng-Chia dưới bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ Đài Loan nhằm tìm hiểu động lực của SV với việc học theo nhóm và tư duy sáng tạo khi được đào tạo với CTĐT theo tiếp cận CDIO [136]. Wang và cộng sự đã sử dụng một bảng hỏi 32 đề mục với năm lựa chọn trả lời theo thang Likert.
Áp dụng phương pháp nghiên cứu trước, sau, gần thực nghiệm (pre-test, post-test, quasi-experiment), thu thập dữ liệu trước và sau khóa học, phân tích khác biệt về điểm đánh giá trung bình với độ lệch chuẩn. Kết quả phân tích cho thấy CTĐT theo tiếp cận CDIO có tác động tích cực đến cả ba nhân tố nghiên cứu: tính sáng tạo, kỹ năng giao tiếp và 15 kỹ năng giải quyết vấn đề. Các tác giả kết luận, việc áp dụng chương trình đào tạo theo tiếp cận CDIO có tác dụng đối với SV trong phát triển tính sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề. Các tác giả nghiên cứu tin rằng điều này sẽ thúc đẩy tính tự học của SV.
Nghiên cứu của Wang và cộng sự được các nhà quản lý giáo dục đại học khu vực châu Á quan tâm, sự khác biệt về văn hóa phương Đông và phương Tây (nơi xuất phát triết lý đào tạo CDIO) cần được lưu tâm khi áp dụng tiếp cận đào tạo CDIO ở các cơ sở giáo dục đại học ở khu vực châu Á, với những tiêu chuẩn và đặc thù của văn hóa phương Đông để giải quyết những phản kháng mang tính văn hoá. Fuentes và cộng sự (2016) [64] đã sử dụng nghiên cứu định tính với sự tham gia của 34 kỹ sư xây dựng người Tây Ban Nha để xác định khoảng cách giữa khối kiến thức và kỹ năng của SV tốt nghiệp với yêu cầu của nhà tuyển dụng trong ngành công nghiệp xây dựng [64]. Mục tiêu của việc đánh giá này là xác định những khoảng cách về năng lực có thể được giải quyết thông qua việc áp dụng đào tạo theo tiếp cận CDIO nhằm đáp ứng sự mong đợi của nhà tuyển dụng, cựu SV và GV. Nghiên cứu này rất quan trọng trong việc cung cấp một cái nhìn tổng thể liên ngành về những kỹ năng mong muốn mà người sử dụng lao động kỳ vọng ở SV tốt nghiệp khối ngành kỹ thuật.
Nó sẽ là cơ sở cho những quyết định về các chương trình và kế hoạch cải tiến liên tục. Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng về việc điều chỉnh chương trình giảng dạy cần được thực hiện theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra. Bài báo của Chuchalin và cộng sự (2018) [50] trình bày các CTĐT đại học và sau đại học về kỹ thuật của trường đại học Công nghệ Bang Kuban, Nhật Bản được thiết kế lại thành “bộ ba kỹ thuật” dựa trên các tiêu chuẩn CDIO.