CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cở sở lí luận 1. Phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 1. Khái niệm năng lực Dạy học theo cách tiếp cận năng lực là tập trung vào việc phát triển các năng lực, kĩ năng cho học sinh.
Về khái niệm năng lực, hiện đang tồn tại nhiều quan niệm của các tác giả trong và ngoài nước. Phần lớn, các nhà nghiên cứu nước ngoài đều hiểu năng lực là khả năng của con người, cụ thể: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm: “Năng lực chính là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể.Weinert: “Năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp. Denysen Tremblay thì cho rằng: “Năng lực chính là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả, tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.22]; Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.22] ,… Ở Việt Nam, năng lực đã được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: Trong “Từ điển tiếng Việt”, năng lực được định nghĩa: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”; là “Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người có khả năng hình thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo tác giả Lê Phương Nga, “Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các 9 kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Và trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TTBGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) - đã nêu rõ: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.37] Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng các khái niệm về năng lực của các tác giả đều có những điểm chung, đó là năng lực được hình thành trên cơ sở kiến thức, kĩ năng và giá trị. Chúng tôi thống nhất với quan niệm về năng lực trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.
Đặc trưng của năng lực Để phân biệt năng lực với những khái niệm khác cùng phạm trù, các tác giả trong nước và nước ngoài đều thống nhất quan niệm năng lực mang tính cá nhân, được bộc lộ ở hoạt động (hành động, công việc) nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể trong bối cảnh (điều kiện) cụ thể. Đây là đặc trưng phân biệt năng lực với tiềm năng (potential) – khả năng ẩn giấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực. Một số tài liệu của Việt Nam còn cho rằng năng lực gắn với các “dạng hoạt động” (“Từ điển Bách khoa Việt Nam”), “loại hoạt động” (“Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học), “loại công việc” (“Tài liệu Hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong Chương trình giáo dục phổ thông mới” của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Theo chúng tôi, việc quy chiếu năng lực với loại hoạt động giúp chúng ta phân biệt năng lực với kĩ năng (skill) – một thành tố của năng lực.
Mỗi năng lực gắn với một loại hoạt động, chẳng hạn: năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, năng lực hợp tác,… Các năng lực này được thể hiện ở những kĩ năng gắn với những hoạt động cụ thể như: kĩ năng nói, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng làm việc nhóm,… Nhìn 10 rộng ra, sự phân biệt năng lực và kĩ năng bằng tiêu chí này cũng giúp chúng ta làm rõ được sự khác nhau về cấp độ giữa phương pháp dạy học với biện pháp dạy học. Có thể hiểu: phương pháp dạy học là những giải pháp tác động vào sự hình thành, phát triển một hoặc một số năng lực ở học sinh; còn biện pháp dạy học là những giải pháp tác động vào sự hình thành, phát triển một hoặc một số kĩ năng nhất định. Đặc trưng thứ hai của năng lực được hầu hết các tài liệu nghiên cứu trong nước và nước ngoài thống nhất là tính “hiệu quả”, “thành công” hoặc “chất lượng cao” của hoạt động. Đặc trưng này giúp ta phân biệt năng lực với một khái niệm ở vị trí giữa nó với tiềm năng là khả năng.
Khả năng là cái tồn tại ở dạng tiềm năng, có thể biến thành hiện thực khi cần thiết và khi có các điều kiện thích hợp, nhưng cũng có thể không biến thành hiện thực. Thực ra, đó là sự phối hợp nhiều nguồn lực liên quan đến cấu trúc của năng lực (thường được cho là bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ.) và một số năng lực cụ thể (như năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp. Có thể xem đó là một đặc điểm của năng lực nhưng khó có thể xem là một đặc trưng phân biệt năng lực với những khái niệm khác như tiềm năng, khả năng hay năng khiếu - những thuộc tính vốn cũng có tính tổng hợp. Đặc trưng thứ ba, năng lực là tổng hòa cả kiến thức, kĩ năng và thái độ.
Trong đó, kiến thức được hiểu là những năng lực về thu thập tin dữ liệu, năng lực hiểu các vấn đề, năng lực ứng dụng, năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, năng lực đánh giá. Đây là những năng lực cơ bản mà một cá nhân cần có khi tiếp nhận một công việc. Công việc càng phức tạp thì cấp độ yêu cầu về các năng lực này càng cao. Thái độ thường bao gồm các nhân tố thuộc về thế giới quan tiếp nhận và phản ứng lại các thực tế, xác định giá trị, giá trị ưu tiên.
Các phẩm chất và hành vi thể hiện thái độ của cá nhân với công việc, động cơ, cũng như những tố chất cần có để đảm nhận tốt công việc. Về kĩ năng, chính là năng lực thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động. Thông thường, kĩ năng được chia thành các cấp độ chính như: bắt chước (quan sát và hành vi khuôn mẫu), ứng dụng (thực hiện một số hành động bằng cách làm theo hướng dẫn), vận dụng (chính xác hơn với mỗi hoàn cảnh), vận dụng sáng tạo (trở thành phản xạ tự nhiên). 11 Đặc trưng cuối cùng của năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên đóng vai trò quan trọng, năng lực con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, phần lớn do công tác và tập luyện. Năng lực đó được hình thành và phát triển trong suốt cả quá trình tập luyện chứ không phải ngày một ngày hai mà có. Tóm lại, có thể hiểu năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Bốn đặc trưng cơ bản của năng lực là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn 3) Năng lực là tổng hòa cả kiến thức, kĩ năng và thái độ 4) Năng lực được hình thành và phát triển trong cả quá trình 1.
Mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Trong các môn học ở trường Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học đặc biệt, gồm nhiều hoạt động khác nhau. Ở mỗi hoạt động cụ thể lại có nội dung, phương pháp và cách thức dạy học khác nhau nhưng chúng lại gắn bó mật thiết với nhau tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh. Những kĩ năng của phân môn này hỗ trợ cho phân môn kia để hướng tới mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. Theo quy định của Chương trình giáo dục phổ thông - Môn Ngữ Văn được ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, mục tiêu ở cấp Tiểu học bao gồm: + Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham 12 thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và trong đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh.
+ Giúp học sinh hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe ở mức độ căn bản: đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý kiến người nói. Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học.5-6] Mục đích cuối cùng của dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt. Dạy học Tiếng Việt chính là dạy tổ chức giao tiếp bằng ngôn ngữ. Về cơ bản, năng lực tiếng Việt được chia thành các năng lực bộ phận sau: Năng lực nói, năng lực nghe, năng lực đọc, năng lực viết.