Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 4 TRONG MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu phát triển năng lực giải quyết vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới NL GQVĐ là một trong những NL quan trọng của con người mà nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đang hướng tới. Đã từ rất lâu các nhà Khoa học đã bắt đầu nghiên cứu PTNL GQVĐ cho HS, sinh viên trong nhiều môn học.
Đến ngày nay, NL GQVĐ vẫn đang là sự quan tâm lớn của các nhà giáo dục. Đối với giáo dục đại học, qua bài báo của nhóm tác giả McDermott & Redish, “Physics Education Research” 1999, cho thấy vào đầu những năm 1970 và đầu những năm 1980 tại các trường đại học ở Minnesota của Mỹ các giảng viên vật lý đã có mong muốn cải thiện việc giảng dạy của mình theo hướng bồi dưỡng NL GQVĐ cho sinh viên (McDermott & Redish, 1999) Và từ đây bắt đầu có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đến vấn đề bồi dưỡng NL GQVĐ cho HS trong dạy học vật lí như Thomas M. “The development of students' problem-solving skills from instruction emphasizing qualitative problem-solving” university of Minnesota (Foster, 2000). Những năm 70 của thế kỉ XIX các nhà sinh học A.Raicop các nhà sử học MM.đã nêu lên phương pháp tìm tòi, phát kiến (Ơrictic) trong dạy học nhằm hình thành NL nhận thức cho HS bằng cách đưa HS tham gia vào quá trình hoạt động nhằm tìm kiếm tri thức, phân tích các hiện tượng.
Đây là một trong những cơ sở của dạy học GQVĐ. Tiến sĩ Raja Roy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng ở Ấn Độ cũng đã đề cao vai trò của NL đặc biệt là NL GQVĐ trong thời đại mới: “Để đáp ứng được những đòi hỏi mới được đặt ra do sự bùng nổ kiến thức và sáng tạo ra kiến thức mới, cần thiết phải GV tư duy, NL phát hiện và GQVĐ một cách sáng tạo. Các NL này có thể qui gọn là “NL phát hiện và GQVĐ” (Nguyễn Anh Tuấn, 2004) -8- Marzano & McTighe (1993) trong nghiên cứu “Assessing Student outcomes performance assessment using the dimensions of learning model” (Marzano, Pickering, & McTighe, 1993), đã chỉ ra cách thức giúp GV dạy học hiệu quả trong việc GV của HS: 1/ Tạo ra môi trường học tập thân thiện, thoải mái, an toàn và ngăn nắp; 2/ Phuơng pháp giảng dạy giúp HS liên hệ kiến thức mới và kiến thức đã học đuợc truớc đây ; 3/ Mở rộng và chắt lọc thông tin nhằm kết hợp hài hòa giữa nội dung bài học và các kĩ năng tư duy; 4/ Tạo điều kiện cho HS áp dụng thông tin có nghĩa, nhằm thúc đẩy quá trình học tập; 5/ Nâng cao tư duy HS lên mức suy nghĩ sáng tạo, giúp HS trở thành những người năng động, có NL GQVĐ trong cuộc sống. Theo Cotton (2000), trong nghiên cứu “The schooling practices that matter most” (Cotton, 2000), đã xác định các yếu tố để GV của HS: Tình huống, bài tập đa dạng về thể loại; linh hoạt trong ghép nhóm; theo dõi sự tiến bộ của HS; có sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng dân cư; môi trường lớp học an toàn, không khí sôi nổi.
Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò của gia đình và cộng đồng trong học tập ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và PTNL của HS. Corbett Wilson (2000) trong nghiên cứu (Corbett, 2002), cho rằng: để HS tích cực, chủ động và PTNL, GV cần phải thường xuyên thúc đẩy HS nỗ lực và giúp các em phát huy hết khả năng; quản lí lớp học bằng cách duy trì sự kiểm soát các hành vi của HS cũng như các hoạt động trong lớp; xác định những HS cần được giúp đỡ; vận dụng đa dạng các phương pháp dạy học; tôn trọng các kiến của HS trong các hoạt động nhận thức. dạy học nhằm phát triển tính tích cực, tự lực, hình thành và GV của HS, các nghiên cứu đều có điểm chung là: 1/ Đặt HS vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học; 2/ Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức dạy học; 3/ Tạo ra môi trường học tập cởi mở, gắn kết với gia đình và cộng đồng xã hội; 4/ Sử dụng các kĩ thuật và nghệ thuật dạy học. Với sự ra đời của lý thuyết vùng phát triển của Vygotsky (1886 - 1938) và các lý thuyết học tập để tạo nên cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về phương pháp dạy học PTNL GQVĐ và GV của HS, các lý thuyết được quan tâm và vận dụng nhiều trong dạy học như: Thuyết hành vi - Học là sự thay đổi hành vi (Skinner, Watson, -9- Thorndike, Thuyết nhận thức - Học là GQVĐ (Jeans Piaget và một số nhà Khoa học khác); Thuyết kiến tạo - Học là tự kiến tạo tri thức (John Decwey, Jean Piaget, Watzlawich).
Từ các lý thuyết học tập, các chiến lược học tập, quan điểm dạy học ra đời tạo nên cơ sở lý luận cho việc GV HS và các phương pháp dạy học tích cực được hoàn thiện, trong đó có phương pháp GQVĐ, PTNL GQVĐ trong dạy học các môn học. Qua đó có thể nói rằng việc PTNL GQVĐ đã được quan tâm từ rất sớm chẳng những trong lĩnh vực giáo dục mà còn trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày của con người. Chính vì vậy có thể thấy được tầm quan trọng của NL này trong suốt cuộc đời của con người. Đây được coi là một trong những NL có vị trí quan trọng để con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, NL GQVĐ là một trong những NL được các nhà giáo dục hết sức quan tâm. Đã có rất nhiều bài báo Khoa học, các công trình nghiên cứu để làm rõ hơn cách thức hình thành và PTNL GQVĐ: Một số bài báo đã nêu được một số nghiên cứu trong việc PTNL GQVĐ trong các môn học cụ thể trong trường phổ thông: Trong bài báo PTNL GQVĐ thông qua dạy học chủ đề sinh trưởng và phát triển (sinh học 11) cho HS THPT của tác giả Lê Đình Trung và Nguyễn Văn Luật cũng đã cho rằng NL GQVĐ là một trong những NL khởi đầu giúp người học tập được tác phong nghiên cứu Khoa học, gắn giữ nhận thức lí thuyết với thực nghiệm Khoa học, nhờ đó mà HS luôn phải tìm tòi, vận dụng sáng tạo để phát hiện thực tiễn, phục vụ cho thực tiễn làm biến đổi thực tiễn theo hướng có lợi cho nhu cầu con người để nhận thức khách quan các hiện tượng, sự vật của tự nhiên một cách Khoa học và biện chứng. Bài báo “Các dạng bài tập nghiên cứu trường hợp PTNL GQVĐ của HS trong dạy học phần sinh vật và môi trường” đã trình bày qua việc nghiên cứu NL GQVĐ ở HS đã xây dựng được các dạng bài tập nghiên cứu trường hợp. Có thể thấy NL GQVĐ là một trong những NL khởi đầu giúp người học tập được tác phong nghiên cứu Khoa học, gắn giữa nhận thức lí thuyết với thực nghiệm Khoa học, nhờ đó mà HS luôn phải tìm tòi, -10- vận dụng sáng tạo để phát hiện thực tiễn, phục vụ cho thực tiễn làm biến đổi thực tiễn theo hướng có lợi cho nhu cầu con người để nhận thức khách quan các hiện tượng, sự vật của tự nhiên một cách Khoa học và biện chứng.
Một số công trình nghiên cứu, phân tích về NL GQVĐ ở trường phổ thông, hướng đến phát triển năng người học, thể hiện qua các bài báo như: Tác giả Hoàng Hòa Bình nêu các định nghĩa về NL và cấu trúc của NL trong dạy học (Hoàng Hòa Bình, 2015); tác giả Nguyễn Thị Lan Phương đã đề xuất cấu trúc và chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá NL GQVĐ trong Chương trình Giáo dục Phổ thông mới (Nguyễn Thị Lan Phương, tháng 12/2014) Trong các luận văn thạc sĩ Giáo dục học của trường Đại học sư phạm Kỹ thuật cũng đã đề cập đến PTNL GQVĐ đa số tập trung vào môn toán như: Luận văn của Phan Kiêm Phát về dạy học GQVĐ môn Toán lớp 5 tại các trường tiểu học thuộc quận Thủ Đức, TP.HCM; Luận văn thạc sĩ trường Đại học Thái Nguyên của Đỗ Thị Duyên nghiên cứu về PTNL GQVĐ cho HS các lớp cuối cấp tiểu học trong dạy học giải toán. Một số nghiên cứu khác tập trung nghiên cứu về đề tài Vật lý, Hóa học,… như: Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Hiếu (2017) thuộc trường Đại học Huế nghiên cứu về Bồi dưỡng NL GQVĐ cho HS trong dạy học chương “Cảm ứng điện tử” Vật lý 11 Trung học Phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thắm (2016) thuộc trường đại học Quốc gia Hà Nội về PTNL GQVĐ thông qua dạy học chương hóa học và vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, môi trường lớp 12. Ở Việt Nam, người đầu tiên đưa phương pháp dạy học GQVĐ vào Việt Nam là dịch giả Phan Tất Đắc đã dịch cuốn sách “dạy học nêu vấn đề” của Lecne (do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1977). Về sau nhiều nhà Khoa học nghiên cứu phương pháp này như Giáo sư Lê Khánh Bằng, Giáo sư tiến sĩ Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ nghiên cứu ở mức lý luận và có áp dụng cho môn Toán ở phổ thông và đại học. Từ những phân tích trên có thể thấy rằng NL GQVĐ là NL cốt lõi đã và đang là vấn đề quan tâm của những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. NL GQVĐ trong các dẫn chứng trên chủ yếu được nghiên cứu về mặt cấu trúc, đặc điểm. Việc PTNL -11- GQVĐ ở trường phổ thông tập trung nhiều vào bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học,… Ở các lớp tiểu học việc nghiên cứu PTNL GQVĐ cho HS chưa nhiều đặc biệt là ở môn Khoa học lớp 4.
Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh 1. Năng lực NL – một thuật ngữ quen thuộc với mỗi chúng ta, vốn chứa cả ý nghĩa sách vở lẫn đời thường sâu sắc. Khái niệm này cho đến nay có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng NL đó. Thứ nhất là các tác giả định nghĩa NL là phẩm chất của tính cách.
Nhóm này bao gồm quan điểm của Binet và T. Simon; PA Rudich (PA Rudich, 1986); Covaliov AG, … Từ những quan điểm này, NL là khả năng bên trong (chất lượng tâm lý và sinh lý) của mỗi con người để đạt được một hoạt động nhất định. Thứ hai dựa trên thành phần cấu trúc của NL để xác định NL. Tất cả các định nghĩa trong nhóm này xác nhận rằng NL bao gồm các kỹ năng.