Tổng quan luận án
Công trình "Vấn đề phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 62 22 03 02), do nghiên cứu sinh Ngô Thị Nụ thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Trần Văn Phòng.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, con người luôn được Đảng và Nhà nước xác định là trung tâm, nguồn lực con người là yếu tố quyết định, vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững. Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng cùng sự phát triển của kinh tế tri thức và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã mở ra nhiều cơ hội, đồng thời đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với phẩm chất và năng lực của người lao động: tính quốc tế hóa cao của thị trường lao động, áp lực cạnh tranh gay gắt, tính chất công việc phức tạp và môi trường xã hội đa văn hóa. Tuy nhiên, năng lực cá nhân của con người Việt Nam nhìn chung vẫn bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng tương xứng với yêu cầu hội nhập. Mặt khác, nhận thức xã hội về phát triển năng lực cá nhân trong thời gian dài thường bị thu hẹp vào năng lực chuyên môn nghề nghiệp hoặc năng khiếu bẩm sinh, chưa chú trọng đúng mức đến các năng lực thích ứng, sáng tạo, tự học và hòa nhập văn hóa. Dưới giác độ triết học, các nghiên cứu chuyên sâu mang tính hệ thống về phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế vẫn còn là một khoảng trống lý luận cần được giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ lý luận về phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam và phân tích thực trạng phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam hiện nay, đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.
- Phân tích làm rõ lý luận về phát triển năng lực cá nhân; thực chất của việc phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam; yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với phát triển các năng lực cá nhân con người Việt Nam.
- Phân tích thực trạng phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam hiện nay và chỉ rõ một số vấn đề đặt ra từ thực trạng này.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam nói chung. Về mặt con người, luận án giới hạn đối tượng khảo sát là những cá nhân đã trưởng thành, trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) và kể cả những người đã hết tuổi lao động nhưng vẫn còn đủ sức khỏe và năng lực cống hiến cho xã hội. Về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu việc phát triển một số nhóm năng lực cốt lõi phù hợp với yêu cầu của hội nhập quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, luận án khảo sát năng lực cá nhân con người trong bối cảnh Việt Nam. Về thời gian, luận án nghiên cứu tiến trình từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986, đặc biệt nhấn mạnh giai đoạn từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đến thời điểm hoàn thành công trình (năm 2018).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng tiếp cận chính:
Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận về năng lực, năng lực cá nhân và phát triển năng lực cá nhân.
- Các học giả quốc tế: Amartya Sen với cách tiếp cận năng lực (Capability Approach) qua các tác phẩm tiêu biểu như Equality of what?, Commodities and Capabilities, The Standard of Living, Development as Freedom, coi phát triển năng lực là mở rộng cơ hội lựa chọn và quyền tự do hiện thực của con người; Howard Gardner với quan điểm về tính định lượng và việc đo đạc năng lực qua hoạt động có kết quả; F.E. Weinert xác định năng lực là các kỹ năng xử lý tình huống linh hoạt và có trách nhiệm; Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) xem phát triển năng lực là quá trình hình thành, tăng cường và duy trì khả năng thực hiện chức năng của cá nhân, tổ chức và xã hội; Joe Bolger trong bài viết "Phát triển năng lực - Tại sao, Phát triển cái gì và Phát triển như thế nào"; Charles Lusthaus, Marie-hélène Adrien và Mark Perstinger trong chuỗi nghiên cứu cho UNICEF và UNDP về kế hoạch, giám sát và đánh giá năng lực; Ủy ban Chuyên gia về Hành chính công của Liên Hợp Quốc cùng David Potten tiếp cận phát triển năng lực ở ba cấp độ (cá nhân, tổ chức và xã hội); Samuel Otoo, Natalia Agapitova, Joy Behrens với công trình về khung kết quả phát triển năng lực định hướng học tập; Peter Morgan với bài viết về các chiến lược phát triển năng lực.
- Các học giả trong nước:
- Dưới góc độ tâm lý học: Chương trình KHCN nhà nước KX07-18 (1992-1995); Phạm Minh Hạc (Một số vấn đề Tâm lý học); Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (Tâm lí học đại cương); Nguyễn Ngọc Bích (Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận); Lê Thị Bừng, Nguyễn Thị Vân Hương (Mỗi người tiềm ẩn một tài năng); A. Côvaliốp (Tâm lý học cá nhân).
- Dưới góc độ giáo dục học: Bùi Thị Hường ("Kích thích năng lực tư duy người học"); Nguyễn Văn Tuấn (Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp); Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông); Đinh Thị Hồng Minh; Dương Thị Nga.
- Dưới góc độ triết học và phát triển con người: Phạm Văn Nhuận; Lê Thị Thủy; Phạm Huy Thành; Phạm Thành Nghị ("Tiếp cận năng lực trong phát triển con người"); Nguyễn Đình Tuấn ("Nghiên cứu phát triển con người: quan điểm, xu hướng và những gợi mở"); Nguyễn Trọng Chuẩn ("Để phát triển con người một cách bền vững"); Hồ Sĩ Quý (Con người và phát triển con người); Nguyễn Văn Huyên; Đặng Hữu Toàn; Nguyễn Văn Sơn; Trần Văn Phòng (các công trình về nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực tổ chức thực tiễn và mối quan hệ cá nhân - xã hội); Đoàn Đức Hiếu (Sự phát triển của cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa); Hồ Bá Thâm; Lương Đình Hải; Lê Quý Trịnh; Trần Văn Riễn; Trần Viết Quang; Hoàng Thúc Lân.
Hướng thứ hai: Các nghiên cứu liên quan đến hội nhập quốc tế, tác động và yêu cầu đối với phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam.
Tác giả điểm lại các công trình của Đỗ Hoài Nam, Võ Đại Lược (Một số vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay); Nguyễn Văn Đệ ("Những đòi hỏi về phẩm chất - năng lực giảng viên trong không gian giáo dục hội nhập"); Hoàng Chí Bảo (Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế); Nguyễn Thị Kim Hoa (Tính tích cực chính trị của công dân Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế); Bùi Thị Phương Thùy ("Giáo dục, đào tạo với việc phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay"); Lê Trường Giang, Ngô Văn Nam, Đặng Thìn Hùng ("Một số yêu cầu đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Asean 2015"); Nguyễn Kim Phượng; Hoàng Thị Kim Oanh; Vũ Văn Phúc, Phạm Minh Chính (Hội nhập kinh tế quốc tế 30 năm nhìn lại).
Hướng thứ ba: Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng, quan điểm và giải pháp phát triển năng lực con người.
- Về thực trạng: Hà Đăng (năng lực phóng viên báo chí); Trần Anh Tuấn (tiêu chuẩn năng lực công chức); Nguyễn Văn Khánh (Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước); Trần Hồng Lưu (Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay); Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế); Nguyễn Văn Phúc, Mai Thị Thu (Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam); Nguyễn Thị Lan, Mai Linh (yêu cầu kỹ năng đối với sinh viên); Nguyễn Bá Ngọc, Đặng Đỗ Quyên ("Chất lượng lao động trình độ cao ở Việt Nam: những hạn chế cơ bản"); Nguyễn Bá Ngọc, Phạm Minh Thu ("Năng suất lao động ở Việt Nam - từ góc nhìn cơ cấu lao động và kỹ năng").
- Về quan điểm, giải pháp: Nguyễn Ngọc Bích; Đoàn Đức Hiếu; Đặng Hữu ("Phát huy năng lực sáng tạo, xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia..."); Bùi Thị Hường; Nguyễn Thế Kiệt; Trần Anh Tuấn; Nguyễn Văn Khánh; Nguyễn Đình Đặng Lục (Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách); Lê Thu Huyền, Nguyễn Thị Hồng Hạnh (nâng cao chất lượng nhân lực khi gia nhập AEC); Vũ Thiện Vương; Phùng Danh Cường.
Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án:
Tác giả nhận định các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận năng lực từ góc độ chuyên ngành tâm lý học, giáo dục học hoặc chỉ tập trung vào một nhóm năng lực cụ thể cho các đối tượng chuyên biệt (sinh viên, giảng viên, công chức, sĩ quan). Các nghiên cứu triết học trước đó chưa xây dựng được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về bản chất, cấu trúc, tiêu chí đánh giá năng lực cá nhân nói chung của con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc phân tích chỉnh thể vấn đề phát triển năng lực cá nhân dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân định cấu trúc năng lực thành hai nhóm lớn (năng lực nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn), đánh giá thực trạng đa chiều và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước về con người và phát triển nguồn nhân lực.
Về mặt lý thuyết và khung phân tích:
- Luận án kế thừa quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin về bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, sự phát triển con người toàn diện là thước đo tiến bộ xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa phát triển sản xuất/lực lượng sản xuất với phát triển năng lực con người, và vai trò của giáo dục kết hợp với hoạt động thực tiễn trong việc xóa bỏ sự phiến diện của phân công lao động.
- Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển năng lực con người thông qua học tập, rèn luyện thực tiễn ("thả cho làm, thả cho phụ trách", không ngừng trau dồi lý luận và cách làm việc).
- Về mặt cấu trúc khái niệm, luận án tích hợp mô hình ASK (Attitude - Skills - Knowledge của Benjamin Bloom và B. Bass) vào hệ thống triết học Mác - Lênin, xuất phát từ hai lĩnh vực hoạt động cơ bản của con người là hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn để phân chia năng lực cá nhân thành hai nhóm:
- Nhóm năng lực nhận thức (biểu hiện tập trung ở năng lực trí tuệ): bao gồm tri thức, phương pháp tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực tư duy độc lập, năng lực xử lý thông tin.
- Nhóm năng lực hoạt động thực tiễn: bao gồm năng lực làm việc (kỹ năng, kỹ xảo, trình độ chuyên môn, khả năng ứng dụng thực hành, năng lực làm việc nhóm) và năng lực sống (phẩm chất, tính cách, hành vi, kỹ năng sống, năng lực giao tiếp, năng lực thích ứng và hòa nhập đa văn hóa).
- Định nghĩa do luận án xây dựng: "Năng lực cá nhân là tổng hợp những thuộc tính riêng có, tương đối ổn định của cá nhân tạo thành khả năng đáp ứng yêu cầu hoạt động nào đó, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tối ưu nhất"; và "Phát triển năng lực cá nhân con người là quá trình tích cực, chủ động, sáng tạo của các chủ thể làm chuyển hóa về chất các năng lực, làm cho năng lực của mỗi cá nhân chuyển từ trình độ thấp lên cao, từ chưa phù hợp đến phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn nhằm giúp mỗi cá nhân đạt kết quả tối ưu nhất trong các hoạt động của mình".
Về phương pháp nghiên cứu:
- Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, đối chiếu và so sánh, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phân tích văn bản.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Nguồn văn kiện, tác phẩm kinh điển: Tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin; Hồ Chí Minh toàn tập; các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc.
- Nguồn công trình khoa học: Sách chuyên khảo, tạp chí lý luận, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ trong và ngoài nước.
- Nguồn dữ liệu thống kê thứ cấp: Niên giám thống kê các năm 2014, 2015 của Tổng cục Thống kê; Báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2014, 2015, quý 1 năm 2016; Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê; các báo cáo phát triển con người của UNDP và bản tin của Văn phòng ILO tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 thực hiện việc phân loại, tổng thuật và đánh giá có hệ thống 4 nhóm tài liệu: (1) Các nghiên cứu lý luận về năng lực, năng lực cá nhân và phát triển năng lực cá nhân con người; (2) Các nghiên cứu về hội nhập quốc tế, tác động và yêu cầu đối với việc phát triển năng lực con người; (3) Các nghiên cứu thực trạng và vấn đề đặt ra đối với năng lực người Việt Nam; (4) Các nghiên cứu về quan điểm và giải pháp phát triển năng lực. Tác giả chỉ rõ các kết quả nghiên cứu đã đạt được của các học giả đi trước về cơ sở lý luận, phương pháp tiếp cận và dữ liệu thực tế, đồng thời khẳng định luận án sẽ tập trung làm sáng tỏ bản chất triết học của việc phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam một cách toàn diện trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Chương 2: Phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế - Một số vấn đề lý luận
Chương 2 tập trung giải quyết các nội dung lý luận nền tảng:
- Khái niệm và cấu trúc năng lực: Luận chứng năng lực cá nhân là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính bẩm sinh và quá trình rèn luyện thực tiễn, phân chia thành nhóm năng lực nhận thức (năng lực trí tuệ) và nhóm năng lực hoạt động thực tiễn (năng lực làm việc và năng lực sống).
- Thực chất của phát triển năng lực cá nhân: Là quá trình làm chuyển hóa về chất các năng lực vốn có, phát triển năng lực mang bản chất người gắn với tính chủ thể và trách nhiệm xã hội. Phân định hai loại chủ thể: chủ thể bên ngoài (Đảng, Nhà nước, nhà trường, đoàn thể, doanh nghiệp, gia đình) giữ vai trò định hướng, tạo điều kiện; và chính bản thân mỗi cá nhân là chủ thể tự giác, tích cực tự đào tạo, tự rèn luyện.
- Các nhân tố ảnh hưởng: Phân tích 3 nhóm nhân tố cơ bản: (1) Yếu tố bẩm sinh, tư chất sinh học (đặc điểm giải phẫu sinh lý, hệ thần kinh) giữ vai trò tiền đề tự nhiên, điều kiện cần; (2) Điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường sống giữ vai trò quyết định tính chất xã hội của năng lực; (3) Hoạt động thực tiễn, giáo dục và tự giáo dục giữ vai trò điều kiện đủ mang tính quyết định trực tiếp đến sự phát triển năng lực.
- Tác động và yêu cầu của hội nhập quốc tế: Hội nhập quốc tế tác động hai mặt đến sự phát triển năng lực (mở rộng môi trường cọ xát, nâng cao tiêu chuẩn chuyên môn nhưng cũng gia tăng áp lực cạnh tranh, nguy cơ tha hóa). Từ đó, hội nhập đặt ra các yêu cầu tất yếu: nâng cao năng lực tư duy sáng tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực ngoại ngữ và tin học, tác phong lao động công nghiệp, năng lực thích ứng linh hoạt và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa.
Chương 3: Phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế thời gian qua - Thực trạng và vấn đề đặt ra
Chương 3 phân tích thực trạng phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam từ năm 1986, trọng tâm từ sau khi gia nhập WTO năm 2007 đến năm 2018:
- Về mặt tích cực: Trình độ học vấn và dân trí được nâng cao; đội ngũ lao động tiếp cận nhanh với tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; năng lực làm việc và năng suất lao động có bước cải thiện; khả năng thích ứng với cơ chế thị trường và môi trường làm việc có vốn đầu tư nước ngoài từng bước gia tăng; sự chủ động, năng động của cá nhân trong tìm kiếm việc làm và tự học tập được phát huy.
- Về mặt hạn chế:
- Năng lực nhận thức: Kiến thức lý thuyết còn nặng tính hàn lâm, thiếu kỹ năng tư duy độc lập, tư duy phản biện và năng lực sáng tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp so với tổng lực lượng lao động.
- Năng lực làm việc: Kỹ năng thực hành nghề nghiệp, tay nghề kỹ thuật còn yếu; thiếu hụt kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý và tác phong công nghiệp; năng suất lao động chung còn khoảng cách so với khu vực; trình độ ngoại ngữ và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin chưa đáp ứng tốt yêu cầu quốc tế.
- Năng lực sống: Kỹ năng sống, năng lực thích ứng với sự thay đổi môi trường làm việc, năng lực giao tiếp và ứng xử trong môi trường đa văn hóa còn hạn chế; ý thức kỷ luật lao động và việc tuân thủ pháp luật, bảo hộ lao động ở một bộ phận cá nhân chưa cao.
- Vấn đề đặt ra: Tác giả chỉ ra các mâu thuẫn chủ yếu: mâu thuẫn giữa đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao của thị trường lao động quốc tế với chất lượng đào tạo thực tế; mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển toàn diện năng lực cá nhân với điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất và cơ chế đãi ngộ còn nhiều bất cập; sự bất cập trong nhận thức của cá nhân và xã hội về vị trí của việc tự đào tạo, tự rèn luyện kỹ năng.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp:
- Hệ thống quan điểm định hướng:
- Phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam phải gắn liền với mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
- Kết hợp hài hòa giữa phát triển năng lực nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn (năng lực làm việc và năng lực sống).
- Kết hợp chặt chẽ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tác động của xã hội và nhà trường với việc phát huy tính tích cực, chủ động tự giác của mỗi cá nhân.
- Phát triển năng lực cá nhân phải gắn với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
- Hệ thống nhóm giải pháp cơ bản:
- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, phương thức thi cử và đánh giá; tăng cường đào tạo kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm, ngoại ngữ và tin học; gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động.
- Hoàn thiện môi trường kinh tế - xã hội và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Xây dựng môi trường lao động minh bạch, cạnh tranh lành mạnh; tạo lập cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo; bảo đảm quyền lợi chính đáng và tôn trọng lợi ích cá nhân, lấy lợi ích vật chất và tinh thần làm động lực kích thích phát triển năng lực.
- Đổi mới chính sách quản lý, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực: Xây dựng tiêu chuẩn chức danh dựa trên năng lực thực tế; xóa bỏ cơ chế tuyển dụng, đánh giá cào bằng, hình thức; trọng dụng nhân tài; tạo điều kiện môi trường làm việc thuận lợi cho đội ngũ cán bộ khoa học và lao động kỹ thuật cao.
- Phát huy tính tích cực, chủ động tự học tập, tự rèn luyện của mỗi cá nhân: Khuyến khích mỗi cá nhân tự xây dựng kế hoạch học tập suốt đời, trau dồi tri thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, bồi dưỡng kỹ năng sống, nâng cao ý thức kỷ luật lao động và năng lực thích ứng với môi trường hội nhập.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận:
- Góp phần làm sáng tỏ và chuẩn hóa các khái niệm: năng lực, năng lực cá nhân, phát triển năng lực cá nhân con người dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Xây dựng cấu trúc năng lực cá nhân con người dựa trên hai lĩnh vực hoạt động cơ bản (nhận thức và hoạt động thực tiễn), chỉ rõ thực chất của quá trình phát triển năng lực cá nhân là sự chuyển hóa về chất trên nền tảng tố chất sẵn có thông qua hoạt động thực tiễn và giáo dục.
- Luận giải có hệ thống tác động hai mặt và những yêu cầu khách quan của hội nhập quốc tế đối với sự phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn:
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập (từ 1986, đặc biệt từ năm 2007 đến 2018), chỉ rõ các thành tựu, hạn chế và những mâu thuẫn đặt ra cần giải quyết.
- Đề xuất hệ thống các quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế nghiên cứu:
- Do tiếp cận vấn đề từ góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án tập trung vào việc làm rõ các quy luật, bản chất lý luận triết học và các định hướng giải pháp vĩ mô, không đi sâu vào việc xây dựng thang đo tâm lý học thực nghiệm chi tiết hay mô hình kinh tế lượng định lượng cho từng ngành nghề cụ thể.
- Luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu ở nhóm cá nhân con người đã trưởng thành trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) và người hết tuổi lao động còn khả năng cống hiến; phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn dừng lại ở mốc năm 2018.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về việc phát triển năng lực cá nhân cho từng nhóm đối tượng xã hội chuyên biệt (như thanh niên, trí thức, công nhân kỹ thuật số, cán bộ lãnh đạo quản lý) trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
- Khảo sát sự biến đổi trong cấu trúc năng lực cá nhân của người lao động Việt Nam dưới tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học và Khoa học quản lý: Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về triết học con người, phát triển con người toàn diện và nguồn nhân lực; cung cấp khung phân tích lý luận về cấu trúc năng lực cá nhân (Chương 2) và tài liệu tổng quan phong phú (Chương 1).
- Đối với các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và lao động: Các luận điểm và hệ thống giải pháp tại Chương 4 là cơ sở tham khảo hữu ích cho việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đổi mới chính sách tuyển dụng, sử dụng và đánh giá lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa năng lực cá nhân và phát triển năng lực cá nhân như thế nào?
Luận án định nghĩa năng lực cá nhân là tổng hợp những thuộc tính riêng có, tương đối ổn định của cá nhân tạo thành khả năng đáp ứng yêu cầu hoạt động nào đó, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tối ưu nhất. Phát triển năng lực cá nhân con người là quá trình tích cực, chủ động, sáng tạo của các chủ thể làm chuyển hóa về chất các năng lực, làm cho năng lực của mỗi cá nhân chuyển từ trình độ thấp lên cao, từ chưa phù hợp đến phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn nhằm giúp mỗi cá nhân đạt kết quả tối ưu nhất trong các hoạt động của mình.
2. Cấu trúc năng lực cá nhân con người được luận án phân chia thành các nhóm nào?
Dựa trên hai lĩnh vực hoạt động cơ bản của con người theo triết học Mác - Lênin và kế thừa mô hình ASK, luận án phân chia năng lực cá nhân thành hai nhóm: (1) Nhóm năng lực nhận thức (tập trung ở năng lực trí tuệ, bao gồm tri thức, phương pháp tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực tư duy độc lập, năng lực xử lý thông tin); (2) Nhóm năng lực hoạt động thực tiễn (bao gồm năng lực làm việc như trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng ứng dụng, làm việc nhóm; và năng lực sống như tính cách, hành vi, phẩm chất, kỹ năng sống, năng lực thích ứng, giao tiếp và hòa nhập đa văn hóa).
3. Những nhân tố cơ bản nào ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam?
Luận án chỉ ra ba nhóm nhân tố cơ bản: (1) Yếu tố bẩm sinh, tư chất sinh học (đặc điểm giải phẫu sinh lý, hệ thần kinh) là điều kiện cần, tiền đề tự nhiên; (2) Điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường sống quy định bản chất xã hội của năng lực; (3) Hoạt động thực tiễn cùng với giáo dục và tự giáo dục là điều kiện đủ giữ vai trò quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển năng lực.
4. Những hạn chế cơ bản trong năng lực của người lao động Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?
Các hạn chế chính gồm: năng lực nhận thức còn nặng lý thuyết hàn lâm, thiếu tư duy phản biện và độc lập sáng tạo; năng lực làm việc thực tế còn yếu ở kỹ năng thực hành nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỹ năng làm việc nhóm; năng suất lao động chưa cao; trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin hạn chế; năng lực sống, kỹ năng thích ứng và hòa nhập trong môi trường đa văn hóa còn nhiều bất cập.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nào?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp: (1) Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học; (2) Hoàn thiện môi trường kinh tế - xã hội và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (3) Đổi mới chính sách quản lý, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nguồn nhân lực; (4) Phát huy tính tích cực, chủ động tự học tập, tự rèn luyện của mỗi cá nhân.
Kết luận
Luận án của tác giả Ngô Thị Nụ đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận triết học về phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Bằng việc phân tích cấu trúc năng lực trên hai lát cắt nhận thức và hoạt động thực tiễn, công trình đã đánh giá khách quan thực trạng phát triển năng lực của người Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến 2018. Trên cơ sở đó, luận án xác định các mâu thuẫn chủ yếu và đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp đồng bộ kết hợp giữa chính sách vĩ mô của Nhà nước với tính tích cực tự rèn luyện của mỗi cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.