Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁ NHÂN CON NGƯỜI VIỆT NAM 1. Các công trình liên quan đến năng lực, năng lực cá nhân, phát triển năng lực cá nhân và thực chất của phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam Đối với các nghiên cứu nước ngoài, ở mỗi một góc độ, quan niệm về năng lực, phát triển năng lực được tiếp cận ở nhiều chiều cạnh khác nhau từ tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, giáo dục học. Trong nhiều công trình nghiên cứu, khái niệm năng lực và phát triển năng lực cũng được các nhà nghiên cứu luận giải ở các góc nhìn khác nhau.
Có thể kể đến Amartya Sen là người đầu tiên đưa ra cách tiếp cận năng lực (Capabiltty Approach) trong nhiều công trình nghiên cứu của mình như Equality of what?; Commodities and Capabilities; The Standard of Living; Development as Freedom,. Cách tiếp cận của ông được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực phát triển con người.Sen cho rằng sự thịnh vượng của con người nên được đánh giá theo sự vận hành chức năng của con người, đó là người đó có năng lực thực sự hay không và có thể làm gì.Sen, năng lực là tổ hợp khả năng thực hiện các chức năng (hay đạt được các chức năng). Nói cách khác, năng lực là sự tự do hiện thực mà con người được thụ hưởng để cuộc sống có ý nghĩa [153, tr. Một người có thể có nhiều năng lực (hoặc nhiều quyền tự do) thay vì chỉ có một.
Con người càng có năng lực thì càng có cơ hội lựa chọn hơn. Phát triển con người được coi là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn và năng lực cho con người. Bởi vậy, phát triển con người, theo A.Sen, đó chính là sự phát triển năng lực cho con người. Đề cập đến tính định lượng của năng lực, Howard Gardner cho rằng: “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [149, tr.Weinert, “Năng lực là những kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự 6 sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [156, tr.
Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc UNDP lại đưa ra khái niệm năng lực chung cho tất cả cá nhân, tổ chức và xã hội: “năng lực” là khả năng của cá nhân, tổ chức và xã hội để thực hiện chức năng, giải quyết vấn đề, thiết lập và đạt được mục tiêu một cách bền vững. Do đó, “Phát triển năng lực là quá trình mà thông qua đó, các năng lực của con người được hình thành, được tăng cường, thích nghi và duy trì theo thời gian” [154]. Theo Joe Bolger - Tư vấn của Cơ quan phát triển quốc tế Canada, trong bài “Phát triển năng lực - Tại sao, Phát triển cái gì và Phát triển như thế nào”, năng lực được hiểu là “khả năng, kỹ năng, sự hiểu biết, thái độ, các giá trị, các mối quan hệ, hành vi, động lực, nguồn lực và điều kiện cho phép các cá nhân, tổ chức, ngành nghề và hệ thống xã hội rộng lớn hơn để thực hiện các chức năng và đạt được mục tiêu phát triển của họ theo thời gian” [150, tr. Theo tác giả, phát triển năng lực bao gồm nhiều “phương pháp tiếp cận và chiến lược” nhằm cải thiện khả năng ở các mức độ khác nhau, không có một phương pháp chung duy nhất để phát triển năng lực.
Mục tiêu của phát triển năng lực là nhằm: tăng cường, hoặc sử dụng một cách hiệu quả hơn các kỹ năng, khả năng và các nguồn lực; tăng cường sự hiểu biết và mối quan hệ; định hướng các giá trị, thái độ, động cơ và điều kiện để hỗ trợ phát triển bền vững. Bài viết “Phát triển năng lực: Định nghĩa, vấn đề và gợi ý cho kế hoạch, giám sát và đánh giá” của Charles Lusthaus, Marie-hélène Adrien, Mark Perstinger là một phần của loạt bài viết và các hoạt động được thực hiện bởi UNICEF và UNDP trong nỗ lực để làm rõ sự phát triển năng lực theo giai đoạn và cách thức để lập kế hoạch, kiểm tra và đánh giá các hoạt động phát triển năng lực. Trong bài viết này, các tác giả đã dẫn ra nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển năng lực, xây dựng năng lực hay tăng cường năng lực. Tuy nhiên, các khái niệm này chỉ đề cập đến phát triển năng lực nói chung cho tổ chức, tập thể hay xã hội, chứ chưa đề cập đến sự phát triển năng lực của cá nhân con người cụ thể.
Chẳng hạn, “Xây dựng năng lực là một quá trình mà các cá nhân, các nhóm, các tổ chức, các đoàn thể xã hội tăng cường khả năng của mình để xác định và đáp ứng được các yêu cầu phát triển một cách bền vững” (CIDA); Phát triển năng lực: “Trong quá trình đó nhóm người, tổ chức, thể chế và xã 7 hội nâng cao khả năng của mình: để thực hiện các chức năng giải quyết vấn đề và đạt được mục tiêu đề ra, để nhận thức và đáp ứng được nhu cầu phát triển của họ trong một phạm vi rộng một cách bền vững” (UNDP) [146, tr.5];… Theo Ủy ban Chuyên gia về Hành chính công của Liên Hợp quốc, “Phát triển năng lực là quá trình mà các cá nhân, tổ chức, thể chế và xã hội phát triển khả năng để thực hiện các chức năng, giải quyết các vấn đề, đặt ra và đạt được các mục tiêu” [145, tr. Nó được thể hiện ở ba cấp độ: cá nhân, tổ chức và xã hội. Ở cấp độ cá nhân, phát triển năng lực liên quan đến việc thiết lập các điều kiện theo đó con người có thể tham gia vào một quá trình liên tục học hỏi và thích nghi với thay đổi - xây dựng trên nền tảng kiến thức, kỹ năng hiện có và tăng cường, sử dụng chúng trong những hướng đi mới. Cách tiếp cận phát triển năng lực ở 3 cấp độ cũng được tác giả David Potten chỉ ra trong bài viết: “Chương trình vừa học vừa làm: Quỹ Phát triển chính sách và nguồn nhân lực Nhật Bản và vấn đề phát triển năng lực”.
Đó là, phát triển năng lực cá nhân, phát triển năng lực của tổ chức và phát triển năng lực của xã hội (môi trường hoạt động). Theo tác giả, phát triển năng lực cá nhân là nhằm: Nâng cao kiến thức cho con người, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành; Tăng cường năng lực kỹ thuật, công nghệ; Nâng cao kỹ năng làm việc trong những điều kiện làm việc khác nhau (năng lực làm việc nhóm, năng lực thích ứng…) [147, tr. Ngoài ra, có thể kể đến các nghiên cứu của Samuel Otoo, Natalia Agapitova và Joy Behrens với bài viết “Khung kết quả phát triển năng lực. Một cách tiếp cận chiến lược và phát triển năng lực theo định hướng kết quả học tập” [152]; Chương trình phát triển Liên Hợp quốc với một số nghiên cứu: “Đo lường năng lực” [155]; Peter Morgan với bài “Năng lực và phát triển năng lực - Một số chiến lược” [151]; v.
Có thể thấy, đã có rất nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài đề cập tới năng lực và phát triển năng lực. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới khía cạnh năng lực và phát triển năng lực cho tổ chức, tập thể, hoặc sử dụng chung khái niệm năng lực và phát triển năng lực cho cả cá nhân và tổ chức. Số công trình có nghiên cứu về năng lực cá nhân và phát triển năng lực cá nhân còn khá khiêm tốn. Đối với những nghiên cứu trong nước, năng lực và phát triển năng lực cũng được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau với nhiều công trình nghiên cứu trên sách, tạp chí, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án.
8 Dưới góc độ tâm lý học, năng lực được quan niệm là một tổ hợp đặc điểm tâm lý cá nhân, hay là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của con người. Chẳng hạn: Chương trình Khoa học công nghệ nhà nước KX07-18 về năng khiếu và tài năng trong giai đoạn từ 1992-1995 với các đề tài nhánh, trong đó các đề tài nghiên cứu đều đề cập tới năng lực là “một tổ hợp đặc điểm tâm lý của con người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định, nó cho phép con người giải quyết được ở mức này hay mức khác một hay nhiều yêu cầu mới của cuộc sống” [130, tr. Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn sách “Một số vấn đề Tâm lý học” đã cho rằng: “Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”, hay: Năng lực là các đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động và đối tượng lao động”. Theo tác giả, “nói đến năng lực là nói đến xu thế có thể đạt tới một kết quả nào đó của một công việc nào đó do một con người cụ thể tiến hành: năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực thụ cảm thẩm mỹ.
Tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt giữa năng lực, năng khiếu, khả năng, tài năng, phân tích cấu trúc của năng lực, cũng như sự hình thành và phát triển của năng lực. Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn trong “Tâm lí học đại cương” cho rằng: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [118, tr. Các tác giả cũng cho rằng, năng lực của mỗi người một phần dựa trên cơ sở tư chất. Nhưng điều chủ yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục.
Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực. Cùng quan niệm năng lực là “một tổ hợp những thuộc tính tâm lý” và là một yếu tố của nhân cách (mặt tài của nhân cách), tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong “Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận” nhấn mạnh: khi nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả trong hoạt động nào đó.