CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY VIẾT THEO TIẾN TRÌNH NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Nghiên cứu về văn bản nghị luận và phương pháp dạy viết văn bản nghị luận ở trường THPT Trong tiến trình lịch sử phát triển của các thể loại, VBNL ra đời từ rất sớm, định hình và phát triển cùng với bước tiến của tư tưởng, văn hóa nhân loại. Đây là thể loại có lịch sử lâu đời và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Chính vì thế, việc nghiên cứu và khảo sát về VBNL được rất nhiều nhà nghiên cứu văn học và PP dạy học quan tâm ở nhiều phương diện khác nhau.
Nội dung nghiên cứu về VBNL trước hết là phải tìm hiểu nguồn gốc của thể loại này. Hướng vào đặc điểm của thể loại, trong Văn tâm điêu long (Phan Ngọc dịch), tác phẩm lí luận văn học nổi tiếng của Trung Quốc xuất hiện cách đây hơn nghìn năm, tác giả Lưu Hiệp cũng đưa ra một cách tiếp cận bắt nguồn từ bản chất của VBNL. Từ góc độ này, người viết cũng chỉ ra một trong những thể loại văn học cổ chính là thể biện luận. Đây là loại văn bản mang tính tranh luận cao, đòi hỏi khả năng lập luận, phân tích và phản bác làm rõ tính đúng, sai của hiện tượng hay vấn đề được đưa ra một cách triệt để.
Dù còn sơ lược và mang tính kinh nghiệm nhưng những kiến giải trên đã cho thấy tính biện luận chính là một trong những đặc trưng cơ bản của VBNL định hình cho thể loại này tồn tại một cách độc lập. Mỗi loại văn bản đều mang trong nó những đặc trưng để khu biệt với các dạng văn bản khác. Căn cứ từ đây, nhóm tác giả Van Eemeren và Grootendorst (1984) đã nhấn mạnh: “Khi viết VBNL, người viết phải giải quyết được những vấn đề đặc trưng của thể loại. Bản chất cũng như mức độ khó của những vấn đề được làm rõ thông qua những khái niệm trong thuyết nghị luận biện chứng thực tiễn.
Theo thuyết này, trong quá trình tạo lập, người viết phải có những kiến thức và KN tương ứng trong VBNL để giải quyết những vấn đề gặp phải” (Dẫn theo [119]). Cũng trên tinh thần nắm bắt những đặc trưng cơ bản của VBNL từ đó có những định hướng trong cách viết cho kiểu bài này, Scardamalia và Bereiter (1986) cho rằng: “Hình thức viết VBNL đòi hỏi người viết phải dựa trên kiến thức của mình về diễn ngôn lập luận và tạo ra các mục tiêu phụ liên quan đến việc hỗ trợ một luận điểm” (Dẫn theo [123]). Và mục đích hướng tới của văn nghị luận cũng được Nippold và Fanning (2005) chỉ rõ: “Viết VBNL yêu cầu người viết nắm bắt một quan điểm cụ thể và cố gắng thuyết phục người đọc chấp nhận cùng một quan điểm hoặc thực hiện một hành động nhất định” [117; tr. Rõ ràng, viết VBNL là một quá trình nhận thức đồng thời cũng là một hình thái vận động của tư duy.
Vì thế vấn document, khoa luan15 of 98. tai lieu, luan van16 of 98. 7 đề nghị luận cần phải được trình bày sâu sắc, thuyết phục để người tiếp nhận tin và hành động theo mục đích mà người viết hướng đến. Nhìn chung, các công trình đã mang đến cái nhìn thiết thực về VBNL và đòi hỏi ở người viết những KN nhất định dựa theo đặc trưng thể loại.
Điểm qua một số tài liệu trong nước, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu cũng đã bao quát được nhiều khía cạnh về VBNL. Khảo cứu về VBNL cũng dưới góc độ đặc trưng thể loại, các tác giả Nguyễn Hữu Tuyền và Nguyễn Gia Phong (1981) trong quyển Tập làm văn và ngữ pháp đã tập trung nhấn mạnh đến những điểm khác biệt giữa VBNL với các kiểu văn bản miêu tả, tự sự. Từ đó, nhóm tác giả chỉ ra một cách cụ thể: “Văn nghị luận căn cứ vào cách lập luận bằng sự suy xét theo lý luận, vận dụng các phép tắc của PP triết lý, bàn bạc, sắp xếp những lý lẽ, dẫn chứng theo những luận cứ, luận điểm” [77; tr. Những đặc trưng này thể hiện rõ bản chất của VBNL với các loại văn cơ bản khác.
Một trong những tài liệu có liên quan trực tiếp đến quá trình hình thành của VBNL phải kể đến công trình Kỹ năng Làm văn nghị luận phổ thông của Nguyễn Quốc Siêu (1998). Tác giả đã dụng công trong việc giới thuyết dấu tích nghị luận trong những tác phẩm cổ xưa nhất của Trung Quốc. Theo tác giả “Những tác phẩm “Kinh thi”, “Kinh thư” được xem là thủy tổ của thi ca và của văn chương đã bao quát cả một thời kì lịch sử dài lâu, trong đó vừa xuất hiện manh nha của văn nghị luận lại hình thành nên cái hình hài ban sơ” [72; tr. Tìm hiểu về vấn đề này chính là xem xét sự xuất hiện của VBNL trong sự định hình những dấu ấn đầu tiên về đặc trưng của thể loại.
Từ đó, tác giả nhấn mạnh ngay từ khi mới xuất hiện thì nền tảng cơ sở của văn nghị luận chính là lập luận và bác luận bằng những lí lẽ và thực tế. Đây là cơ sở quan trọng hình thành nền tảng lí thuyết cho VBNL ngày nay. Việc xác lập những đặc điểm khu biệt có tính chất quy luật này chính là quá trình đi sâu vào hướng tiếp cận những đặc trưng của thể loại nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu và dạy viết VBNL một cách hoàn chỉnh, đúng hướng. Tiếp nối vấn đề quan niệm về VBNL từ đó hình thành những công việc cụ thể để viết một bài văn hay, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh (2006) trong công trình Muốn viết được bài văn hay cũng đã nhấn mạnh VBNL được xây dựng bởi cơ sở tư duy logic.
Điểm cốt yếu của VBNL nói chung là dùng lí lẽ bàn bạc làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. Như vậy mục đích hướng tới của VBNL nhằm trực tiếp thuyết phục đối tượng tiếp nhận bằng hệ thống những lí lẽ và dẫn chứng xác đáng. Nắm được những điểm cốt lõi này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận và tạo lập VBNL. Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đưa ra những quan điểm phù hợp và thống nhất về chức năng, đặc trưng của thể loại VBNL.
Trong document, khoa luan16 of 98. tai lieu, luan van17 of 98. 8 chương trình viết ở THPT, VBNL cũng là kiểu bài chính, được quan tâm giảng dạy xuyên suốt và chiếm phần lớn thời lượng. Với cái nhìn tổng thể, nghiên cứu về VBNL đã đóng góp những tiền đề thuận lợi, gợi ra nhiều vấn đề trong việc tìm đến những PP dạy viết VBNL ở trường THPT.
Để đáp ứng yêu cầu thực tế về hoạt động dạy viết VBNL, hiện nay cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này. Với mục đích tìm hiểu về tình hình dạy học Làm văn từ đó định hướng PP dạy học phân môn này ở nhà trường phổ thông, tác giả Phan Trọng Luận (2001) trong cuốn Phương pháp dạy học Văn đã có những đánh giá đúng mực về thực trạng của phân môn này. Khi đặt trong sự tương quan với môn Giảng văn ở nhà trường phổ thông thì Làm văn ít được chú trọng, tác giả cũng nhấn mạnh: “Đây là phân môn còn nhiều mắc mớ nhất không chỉ là vấn đề nhận thức về vai trò và vị trí mà còn cả vấn đề nắm vững lí thuyết và PP” [46; tr. Theo tác giả, quá trình dạy học phân môn làm sao phải tạo điều kiện cho HS thực sự sáng tạo, và nhận thức được Làm văn không phải là chuyện xa lạ mà vô cùng quan trọng, gắn bó với người học không chỉ ở nhà trường mà trong cả đời sống, công việc sau này.
Tác giả cũng lấy kiểu VBNL như là một minh chứng cho thấy việc dạy viết chưa gắn với nhu cầu thực tiễn. Điều này cũng đã chỉ ra rằng việc dạy viết VBNL ở nhà trường phổ thông thực sự chưa đạt được kết quả như mong muốn. Từ thực tế trên, tác giả Phan Trọng Luận cũng đề xuất phương thức đi từ mẫu chuẩn để hình thành lí thuyết về dạy viết. Hệ thống NL và KN viết của HS sẽ được rèn luyện tương ứng với hệ thống bài tập thực hành.
Tuy nhiên, tác giả chưa phác họa được cách thức và quy trình cụ thể để phát triển NL viết văn bản cho HS. Trong sự cố gắng nâng cao hiệu quả dạy học Làm văn ở nhà trường phổ thông, sách Làm văn của tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi được xem là tài liệu hữu ích phục vụ cho việc thực hiện SGK NV mới năm 2007. Nhóm tác giả đã đi vào trình bày cơ sở lí luận về những nội dung liên quan đến các kiểu văn bản và đi sâu vào đặc điểm, cách làm ở mỗi kiểu bài quen thuộc trong nhà trường. Riêng đối với VBNL, vấn đề được tập trung đề cập ở đây chính là cách dạy cho HS biết tạo ý, làm phong phú ý và biết lập luận, phản bác để làm sáng tỏ yêu cầu đề.
Trên cơ sở này đối chiếu PP dạy viết VBNL với các kiểu văn bản khác. Từ đó rút ra được những cách thức tiếp cận khác nhau phù hợp với đặc trưng của từng kiểu văn bản. Quan tâm đến các PP dạy học tạo lập văn bản nói chung, tác giả Mai Thị Kiều Phượng (2009) đã có sự tiếp thu, kế thừa những công trình về dạy tạo lập văn bản của các nhà nghiên cứu đi trước. Từ đó, tác giả đề cập một cách có hệ thống với những kiến thức mang tính cụ thể, đa dang về PP trong giáo trình Làm văn bằng PP kết cấu và PP diễn đạt.
Xuất phát từ mục tiêu hướng tới phát triển NL nhất định cho người học trong tạo lập văn bản, tác giả đề cập đến nguyên tắc về việc dạy học tạo lập văn bản phải dựa trên cơ sở tích hợp với phân môn tiếng Việt và Văn học. Tính chất tích hợp thể hiện mối quan hệ document, khoa luan17 of 98. tai lieu, luan van18 of 98. 9 biện chứng về kiến thức tiếng Việt để viết đúng các đơn vị ngôn ngữ trong một bài luận, cũng như phải nắm kiến thức Văn học để vận dụng thể loại, các văn bản như những khuôn mẫu điển hình cho việc tạo lập các kiểu văn bản.
Từ nguyên tắc trong tạo lập văn bản, tác giả Mai Thị Kiều Phượng đã đề xuất hàng loạt các PP tập trung ở phần hai và phần ba của giáo trình.