Chương I; Áp dụng BĐTD trong day học TLV ở lớp 3 Chương III: Thiết kể các giáo án ứng dụng BĐTD dé phát triển kĩ năng tìm va lập dan ý cho HS lớp 3 và kết quả thực nghiệm PHAN KET LUẬN trang 9 Khóa luận tất nghiện PHAN NOI DUNG CHUONG | CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THỰC TIEN CUA ĐÈ TÀI 1.! Hoạt động giao tiến và ứng dụng vào dạy học Tập làm van lJ Hoạt động và vai trò của hoại động Theo A. Lê-ôn-chep, “Hoat động là ban thể của tâm lí ý thức. Tâm lí ý thức được nay sinh bởi hoạt động. Trong tâm lí học, hoạt động được coi là sự vận động của chủ thể, của con người, hoạt động qui định nguồn gốc, nội dung và sự vận hành của tâm lí.
Trường phái Tâm lí học Xô viết như L. Lé-Gn-chep, P. Cian-pe-rin. cho răng nhận thức của trẻ em chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động.
Thật vậy, muỗn trẻ em lĩnh hội một mảng kiến thức nào dé một cách nhanh chồng thì không có giải nhấp nào tốt hơn là hãy để cho trẻ tự bản thân hoạt động để khám phá ra tri thức. Dé trẻ hiểu được ánh sáng, nước, dat cần cho sự sống của cây cdi, hãy cho trẻ tự trồng một loại cây hay một loài hoa, theo dõi chăm sốc chúng mỗi ngày đồng thời theo dõi tiễn trình phát triển của cây rồi đưa ra nhận xét và rút ra kết luận những yếu tổ cần cho sự sống của cây. Dé HS hiểu và cảm nhận được ý nghĩa của một bài tập đọc, hãy để trẻ suy nghĩ, thảo luận, trao đổi bằng những câu hỏi gợi ý. Khi được hoạt động, được tr duy bằng chính những kinh nghiệm, những von sống của bản thân để khám phá ra bài học thì những kién thức vốn rất nặng nề, khô cứng sẽ được ghi nhớ và khắc sâu hơn, học tập sẽ sinh động hơn.
Nói tam lại, hoạt động là một hình thức quan trọng trong quá trình HS tư duy trang 10 Kha luận tắt nghiện và học tập, đặc biệt đối với một phân mén tổng hợp như TLV, hoạt động càng phat huy được tính tích cực của nó.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuỗn Ngữ dụng học, hoạt động giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ A đến B và theo chiêu ngược lại trong một ngữ cảnh nhất định nhằm một mục đích nhất định và bằng một phương tiện ngôn ngữ nhất định (gọi tắt là giao tiếp). Giao tiếp là một trong những bản chất đặc trưng của tâm lí con người, của ý thức và nhãn cách.Nếu sự phát triển tâm lí của cá nhân là quá trình lĩnh hội kinh nghiệm của loài người đã tích lũy được (L. Gia-pa-ré- giết, A.) thì giao tiếp phải là một nhãn tổ cơ bản của sự phát triển tâm lí đó. Xét quá trình phát triển của cá thể người thì giao tiếp là một nguồn quan trọng nhất của sự phát triển tâm lí.
Đi với trẻ em, nhất là ở lita tuổi tiểu học — giai đoạn cuỗi hình thành dau phát triển vẻ mặt nhận thức và nhân cách — giao tiếp đồng một vai trò cực ki quan trọng. Hãy thử tưởng tượng một đứa trẻ không được tiếp xúc với xã hội, nói cách khác là không thực hiện hoạt động giao tiếp với cộng đồng sẽ chậm phát triển vẻ mặt trí tuệ như thé nào, thậm chí nó có thể trở thành “bat bình thường” so với những đứa trẻ khác đồng trang lứa. Bởi chính sự tác động qua lại của con người trong giao tiếp là nhãn tổ quan trọng hàng đầu của sự hình thành nhân cách (E. Pa-gu-rin).
Và, néu sự giao tiếp không được chú ý, nghèo nàn vẻ nội dung, trẻ nhỏ sẽ bị ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển trí tuệ, tâm lí (G. Giao tiếp là điều kiện can thiết cho quá trình lĩnh hội tiếp thu tri thức cũng như hình thành và hoàn thiện nhẫn cách của trẻ em tiểu học. Trong tắt cả các hình thức và phương tiên giao tiếp, ngôn ngữ được xem là một phương tiện tỗi ưu nhất, phong phú nhất và bộc lộ nhiều ưu điểm nhất. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp.
Bên cạnh những yếu tổ phi ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, điệu trung I] Khéa luận tắt nghiệp hộ. yêu tổ ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp, đồng một vai trò quan trọng quyết định diễn biến và hiệu quả của quá trình giao tiếp. Hoạt động giao tiếp hãng ngôn ngữ đặc biệt có ý nghĩa với lửa toi tiểu học, Những kiến thức, trí thức khoa học đời sông, những bài học đều được khám phá, lĩnh hội và khắc sâu trong trí nhớ của các em thông qua hoạt động giao tiếp với thấy cô, bạn bè, gia đình cùng những người xung quanh bằng câu chữ, lời nói và ngôn ngữ tiếng me đẻ các em đã tích lũy được trong suốt quá trình học tập. Dược lắng nghe những tri thức từ thay cô, cha mẹ, được trao đổi chia sẻ những kinh nghiệm hiểu biết của minh với ban hè, hay được nói, thuyết trình, tranh luận vẻ một đẻ tài sẽ giúp trẻ sáng tỏ nhiều van dé, tiếp thu được nhiều cái hay, cái mới đồng thời rèn luyện cho trẻ kĩ năng sử dụng tiếng Việt thành thục trong giao tiếp.
Tóm lại, hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho trẻ tiểu học trong quá trình hình thành và phát triển cả vẻ thẻ chất lin tam hẳn.* Hoat động trí tuệ và cảm xúc của HS khi làm văn - Tư duy Dé hoạt động nói và viết có hiệu quả vẻ mặt nội dung, HS tiêu học phải tư duy, xem xét doi tượng được nói đến bang kiến thức và kinh nghiệm sống với mục đích tìm ra những chỉ tiết. hình ảnh rồi sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí. Song song đó, hoạt động tư duy của HS trong làm van còn thé hiện ở cách các em chọn lựa và vận dụng những tri thức vẻ tử, câu dé bày tỏ những ý tưởng và cảm xúc của bản thin trong bai làm, GO lửa tuổi nhỏ, HS tiểu học chủ yếu tư duy trực quan hình tượng trên cơ sở vẫn sống các em tích lũy được tử quan sát, ling nghe hoặc tiếp xúc. Do đó, tư duy phát triển phải luôn gan liễn với việc cung cap và mo rộng hiểu biết của trẻ dong thời hình thành và rên luyện cho trẻ cách thức thực hiện hoạt động tư duy (cách học).
nghĩa là dạy cho trẻ tập suy nghĩ khi đứng trước một van đẻ, đặc biệt là doi với phân môn khai thác nhiều kinh nghiệm và phát triển tư duy của HS như TLV. trang [2 Khóa luận tốt nghiệp - Tưởng tượng và sáng tạo Trong tat cả các hình thức sáng tao, tưởng tượng thi sáng tạo bằng ngôn từ là tiêu biểu nhất trong lửa tuổi HS. Khi trẻ bước vào lớp 3, sáng tác văn học có ý nghĩa quan trọng. Nó giúp trẻ vượt qua giai đoạn đột biến trong sự phát triển của trí tưởng tượng.
sáng tạo, giai đoạn này được quyết định và giữ lại suốt đời phương hướng mới của trí tưởng tượng của nó. Sáng tác văn học của HS ở nhà trưởng là những bài TLV. Tưởng tượng, sáng tạo trong TLV là trẻ biết huy động vốn kinh nghiệm, cảm xúc, ngôn ngữ trong cách thẻ hiện nội dung. Tiếp xúc với dé bài, HS bắt đâu quá trình tưởng tượng và sáng tạo.
Đọc và xác định được đổi tượng được nhắc đến, HS bước đầu xác lập mối quan hệ giữa kinh nghiệm cám xúc của mình với nội dung dé bài, từ đó. quá trình tướng tượng đi vào vận động, cung cap chất liệu cho hoạt động tìm tdi, khám phá và sáng tạo. Tiếp theo đó, HS sẽ quan sát, hồi tưởng, liên tướng, liệt kê, hệ thông hóa các sự kiện, dữ liệu vừa tìm được vào một thẻ thống nhất tùy theo thẻ loại (tim ý và lập đàn ý). Hoạt động tưởng tượng của HS diễn ra ở hai khía cạnh: tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo.
Tưởng tượng tái tạo là HS hình dung lại những gì em di trải qua, đã nhận thấy, đã cảm trong những hình ảnh sự việc liên quan đến đối tượng xác định. Tướng tượng sang tạo sẽ tạo ra những hình anh “mdi” về đối tượng thông qua việc kiến tạo ra những dữ kiện liên quan đến đối tượng. Ở đây, HS tự do tìm ý, bộc lộ ý tưởng riêng càng nhiều càng tốt. Vì vậy, GV phải luôn có biện pháp khai thác các ý tưởng sinh động, phong phú của mỗi cá nhân HS dé tạo ra bài văn không những đúng mà còn day sáng tạo.
- Cảm xúc Trong TLV, yếu tế nội dung bao giờ cũng song hành cùng yếu tố cảm xúc. Mội tác giả khi cho ra đời tác phẩm văn học đều gửi gam vào đó những tinh cam và tắm lòng của mình. Văn chương bao giờ cũng gắn liền với cảm xúc. Hoạt động sáng tác vin học trong nhà trường - phân môn TLV - cũng vay.
Đổi với HS tiểu học, khi nói hay viết lúc nào cũng sẵn sàng bày tỏ sự yêu ghét, trang 13 Khóa luận tốt nghiệp thích thú hay nhàm chán. Mọi sự vật hiện tượng mà trẻ tiếp xúc rất dể gây cho trẻ xúc cảm. Do đó, khi miêu tá vẻ một sự vật hiện tượng hay kẻ lại một câu chuyện, HS thường chen vào đó những cảm xúc yêu thích, khâm phục những cái đẹp, cái tốt hay chế cười, ghét bỏ những cái xấu, cái ác. Những cảm xúc chân thật đó làm nên sự mới lạ, hap dẫn cho một bài văn.
Phân môn TLV ngoài nhiệm vụ cung cấp những kiến thức, kĩ năng vẻ văn mà còn giáo duc tính thấm mĩ cho HS. Một bài văn hay không phải chỉ chứa đựng day đủ nội dung mà còn là một “thông điệp” của HS vẻ đếi tượng. Vì vậy, GV phải biết cách khai thác, gợi mở dé các em có thể bộc lộ những tình cảm trong làm văn.4 Dạy TLV là dạy một hoạt động Cũng như các hoạt động tâm lí khác, hoạt động lời nói chỉ nay sinh khi có động cơ và mục đích nói năng, bởi vì: “Chúng ta nói không phải để nói mà dé báo về một cái gì đó, tác động đến một người nào đó. Lê-ôn-chép).
Và cũng chính do tam quan trọng của hoạt động giao tiếp trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của HS lứa tuổi tiểu học mà công việc đầu tiên của dạy học TLV - day sản sinh lời nói — là tạo ra được động cơ, nhu cau nói năng, kích thích HS tham gia vào cuộc giao tiếp (nói, viét).