CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7 1. Cơ sở ngôn ngữ học 1. Từ Tiếng Việt Theo cuốn Từ và từ vựng học tiếng việt của Nguyễn Thiện Giáp thì khoảng 300 định nghĩa về từ. Điều này chứng tỏ việc định nghĩa về từ không hề đơn giản và vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào để thỏa mãn tất các quan điểm của các nhà nghiên cứu.
Trong các tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ học hiện đại đã có miêu tả bản chất của từ và chia nó thành ba khuynh hướng cơ bản: 1) Từ chỉ được nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học trong một phần nhỏ, chủ yếu việc nghiên cứu về từ được chuyển sang các khoa học cơ bản như triết học, tâm lí học và logic. Buhler đã định nghĩa về mặt ngữ âm của từ: "Từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường”.Trong đó, từ được xác định bằng một mặt nào đó của từ hoặc được xác định một cách chung chung, không cụ thể. Theo định nghĩa của FF.Fortunatov: “Một từ là bất kỳ âm thanh lời nói nào có nghĩa khác trong lời nói với ý nghĩa của các âm thanh khác cũng là các từ khác.” một cấu trúc thống nhất về nội dung và ý nghĩa của âm thanh ”.Các tác giả trong nước cũng đưa ra một số định nghĩa về từ như sau: Là một định nghĩa sơ bộ với thao tác giả định Theo Nguyễn Thiện Giáp trong Giáo trình Ngữ văn đã đưa ra định nghĩa như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, không phụ thuộc vào nghĩa và hình thức”. Trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ học, các tác giả cho rằng: “Từ tiếng Việt là một chỉnh thể có nghĩa nhỏ nhất dùng để tạo thành câu.
Nó có dạng một âm tiết, một chữ viết ” Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ tiếng Việt là một hay nhiều âm tiết cố định, bất biến về mặt hình thái và cú pháp trong một câu, trong một kiểu cấu trúc nhất định, với những đặc điểm ngữ pháp nhất định tương ứng với 8 những ý nghĩa nhất định và dùng được cho mọi thành phần trong xã hội Việt Nam. chúng ta thấy từ có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng hiểu một cách đơn giản và khái quát nhất: “Từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo vỏ ngữ âm ổn định và hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được sử dụng độc lập. và tự do kết xuất trong lời nói để tạo thành câu. Tính bất di bất dịch và bất biến về thanh âm là điều kiện mấu chốt giúp ta phát hiện từ dễ dàng.
Nhưng cũng chính bởi tính yên ổn và bất biến này mà chính mình cách thức ngữ âm của từ tiếng việt không có những biểu hiện chỉ rõ đặc tính ngữ pháp của chúng. Nói cách khác , ở tiếng việt , đặc tính ngữ pháp của từ không thể hiện trong nội bộ từ mà thể hiện hầu hết ở phía bên ngoài từ, trong tương quan của chúng với các từ khác trong câu. “ Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ” hay đơn vị để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng. Từ tiếng Việt được cấu tạo gồm một tiếng hoặc nhiều tiếng.
Vốn từ Tiếng Việt Tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen hoặc biết tới được gọi là vốn từ vựng hay từ vựng của một người. Vốn từ của từng người là cụ thể, không ai giống ai. Vốn từ vựng nhiều hay ít , giản dị hay phong phú tùy vào kinh nghiệm sống , trình độ hiểu biết, sự trò chuyện, trao đổi phong tục tập quán của mỗi chúng ta. Bình thường, lượng từ vựng của con người liên tục được tăng lên theo tuổi ( vì thời kỳ giao tiếp và sự trò chuyện của con người nâng lên ) , nó là dụng cụ chủ đạo và quan trọng trong trò chuyện, tư duy và tiếp nhận vốn hiểu biết.
Với mỗi người, việc có một vốn từ vựng đa dạng là rất mấu chốt. Ta thấy rằng vốn từ vựng của con người càng đa dạng bao nhiêu thì có thể diễn đạt của người đó càng tinh tế, chuẩn xác, có thể suy nghĩ của người đó càng sắc sảo, rành mạch chừng đó. Vốn từ vựng được con người tích lũy được tiến hành thành một hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét chung về nội dung và hình thức khiến con người đứng trước một tổ chức nào đó nhiều khả năng hình dung tới những cơ quan khác cùng chuỗi với chúng. Ta có thể khẳng định rằng, từ được hiện hữu 9 trong đầu óc con người như một hệ thống ( từng đơn vị có mối quan hệ với nhau, nằm trong một hệ thống chung) do đó từ vừa được tích lũy nhanh đồng thời áp dụng dễ dàng.
Theo tìm hiểu của các nhà tâm lý nghiên cứu ngôn ngữ học, người có trình độ hiểu biết bình quân có vốn từ vựng khoảng 25000 từ. Bằng những số lần dùng từ, nhiều người xác định hai loại kho từ vựng là chủ động và thụ động. Kho từ vựng chủ động là các từ được ứng dụng hằng ngày, có số lần dùng cao, được con người nắm rõ đồng thời áp dụng văn nói và văn viết một cách thành thục. Kho từ vựng thụ động gồm các từ không áp dụng hoặc ít dùng chúng trong văn nói hoặc viết.
Trong thời gian hoàn thiện và phát triển ngôn ngữ, một số từ mới có nghĩa vừa được phát sinh, nhưng cũng có nhiều từ cũ bị loại bỏ , mất dần được ứng dụng. Ví dụ trước đó họ thường sử dụng các từ như : máy bay, máy bay, xa hỏa,. Tuy nhiên hôm nay những từ này ít nảy sinh, ít được ứng dụng và có rủi ro bị loại bỏ. Những từ cũ này từ từ được gạt đi ra khỏi kho từ vựng chủ động, còn những từ mới xuất hiện thì chưa thể thành kho từ vựng chủ động, ta cần tập trung làm việc hóa những từ đó bằng khả năng áp dụng vào công tác trò chuyện một cách liên tục và hữu hiệu.
Do đó, để bồi dưỡng văn hóa về phương diện ngôn ngữ của con người mọi người cần phát huy vốn từ vựng bằng kỹ thuật làm giàu vốn từ vựng một cách tích cực. Bản chất hệ thống của từ và việc làm giàu vốn từ cho học sinh 1. Bản chất của hệ thống của từ Các nhà ngôn ngữ học cho rằng từ không tồn tại một cách rời rạc, riêng lẻ mà tồn tại thành hệ thống. Không thể tách giá trị của mỗi yếu tố ra khỏi hệ thống mà chỉ khi nó được tồn tại trong hệ thống thì mới có giá trị.
Xét về cấu tạo, từ tiếng Việt có hệ thống cấu tạo được biểu hiện như sau: Từ láy hoàn toàn Từ đơn Từ láy Từ láy bộ phận 10 Xét về đặc điểm ngữ pháp, các từ tạo nên hệ thống từ loại. Hệ thống từ vựng tiếng Việt bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, số lượng từ, đại từ, động từ bổ trợ, quan hệ từ, bổ ngữ. Xét về mặt ngữ nghĩa, các từ cũng tạo nên những hệ thống ngữu nghĩa với các mức độ lớn nhỏ, cao thấp khác nhau. Ở mức độ nhỏ nhất, mỗi ý nghĩa của từ là một hệ thống mà yếu tố của nó là những nét nghĩa.
Ở mức cao hơn, các ý nghĩa trong một từ nhiều nghĩa hợp thành một hệ thống trên cơ sở duy trì một nét nghĩa cốt lõi. Cao hơn nữa là hệ thống nghĩa của các từ thuộc cùng một trường nghĩa, nhất là các từ gần nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa. Về mặt phạm vi sử dụng, các từ cũng hình thành các hệ thống với các sắc thái và giá trị khác nhau: từ toàn dân, từ địa phương, các từ nghề nghiệp, các thuật ngữ, các từ cổ, từ thuần Việt, từ vay mượn… Xuất phát từ đặc trưng từ ngữ trong hệ thống ngôn ngữ, khi nói đến mở rộng vốn từ phải tuân theo quy luật hệ thống. Có thể mở rộng vốn từ theo nhiều hệ thống khác nhau như: mở rộng vốn từ trên cơ sở lí thuyết về trường nghĩa, theo yếu tố cấu tạo từ, theo hệ thống từ loại… Trường nghĩa từ vựng là tập hợp các từ ngữ cố định trong từ vững có sự đồng nhất về ngữ nghĩa.
Các đơn vị từ vựng có hai nghĩa là nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm nên từ cũng có hai trường nghĩa là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm. Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ cùng biểu thị các đối tượng, các hoạt động, các trạng thái, các tính chất đặc điểm … thuộc cùng một phạm vị của hiện thực. 11 Ví dụ 1: Trường nghĩa “sách vở” có thể bao gồm các trường nghĩa nhỏ hơn như sau: Tên các loại sách: sách giáo khoa; sách tham khảo; sách tiếng anh…; Tên các loại vở: vở ô li; vở tập viết; vở bài tập …; Các từ chỉ trạng thái: cũ, mới, rách …; Các từ chỉ đặc điểm: đắt, rẻ, đẹp, xấu… Trường nghĩa biểu niệm là sự tập hợp các từ có cấu trúc biểu niệm giống nhau. Hay nói cách khác các từ trong trường nghĩa này có một nét nghĩa đồng nhất nào đấy trong nghĩa biểu niệm của chúng.
Dựa vào nét nghĩa đồng nhất đó, ta có thể lập một trường nghĩa biểu niệm. Ví dụ 2 : Các từ có nét nghĩa chung là “ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống ( không thể phục hồi) của một cơ thể” tạo thành trường nghĩa: chết, mất, qua đời, ra đi, hi sinh, từ trần, tử vong, bỏ mạng… Việc dạy từ ngữ theo các chủ đề, chủ điểm từ ngữ hiện nay ở các trường Tiểu học thực chất là dạy từ ngữ theo các trường biểu vật hoặc trường biểu niệm, cũng có nghĩa là dạy từ theo hệ thống. Đây là cách dạy phù hợp với đặc trưng và tính hệ thống của từ tiếng Việt. Việc làm giàu vốn từ cho học sinh Làm giàu vốn từ (còn được gọi là phát triển vốn từ vựng hoặc làm giàu vốn từ vựng) đề cập đến việc bổ sung các từ mới vào vốn từ hiện có của một cá nhân để làm phong phú thêm vốn từ của một cá nhân.
Làm giàu vốn từ là cung cấp cho học sinh vốn từ vựng với nhiều nghĩa đa dạng: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa “văn tự”. Chúng tôi nhận thấy rằng những cá nhân có vốn từ vựng phong phú có khả năng tham gia vào các hoạt động giao tiếp một cách tự tin và hiệu quả nhất.