CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN VẺ TRÒ CHƠI HỌC TẬP 1. Cơ sở lý thuyết các vấn đề của đề tài 1. Quan niệm về học tập 1.
Khái niệm học tập Học tập là một quá trình thay đôi liên tục về hiệu suất và tiềm năng đề hoàn thiện (Driscoll, 2000). Bàn đến các quan điểm vẻ hành động học, có đa dạng các cách tiếp cận tùy vào đối tượng nghiên cứu. Nhìn chung, học được hiểu là quá trình tiếp thu kiến thức, kĩ năng và thói quen, ở đó là một sự thay đôi vĩnh viễn trong hành vi (Driscoll, 2000: Steinkuehler, 2010; Thorndike et al. Học tập thực sự hiệu quả khi người học có cơ hội tương tác, trải nghiệm, khái niệm hóa từ thực tế (Steinkuehler, 2010; Thorndike et al.
Hay nói một cách ngắn gọn, sự học là kết quá của kinh nghiệm và hành vi có được từ trải nghiệm với thế giới xung quanh (Driscoll, 2000; Thorndike et al. Tóm lại, chúng tôi quan niệm học tập là một hành động diễn ra suốt đời với nhiệm vụ tích lũy vốn sống và trui rèn kĩ năng, ở đó bao gồm cả hình thành năng lực và bôi dưỡng phẩm chất chứ không đơn thuần giới hạn về khía cạnh kiến thức khoa học. Qua việc học, chúng ta được trao cơ hội thay đổi, chỉnh sửa, cải thiện những lỗ hồng trong quá trình trải nghiệm. tương tác với thé giới xung quanh.
việc học sẽ đạt hiệu quả nhất là khi chúng ta có sự tích cực hóa trải nghiệm, được nhúng mình vào môi trường thực tế. Quá trình học tập Khi nói về quá trình học tập hiệu qua, tac giả Peter C. Brown cùng các cộng sự đến từ trường Đại học Harvard, đưa ra quan điểm trong cuốn sách Make it stick: the science of successful learning (Peter C. Brown et al., 2014) như sau: Khi tiếp nhận thông tin mới, bộ não trải qua ba giai đoạn quan trọng đẻ biểu và áp dụng kiến thức.
Giai đoạn đầu tiên là Mã hóa thông tin (Encoding), trong đó não chuyên đổi các cảm nhận từ giác quan và tín hiệu nội bộ thành nhận thức rõ ràng nhất. thường được lưu trữ trong bộ nhớ ngắn hạn. Sau đó, thông tin được chuyên đến giai đoạn Cường hóa nhận thức (Consolidation), nơi chúng ta tự hồi tưởng và liên kết kiến thức mới với những gì đã biết, dé cuối cùng được lưu trữ trong bộ nhớ đài hạn. Quá trình này giúp đảm bảo sự ôn định và sắp xép thông tin một cách chặt chẽ.
Cuối cùng, giai 14 Tưởng Bảo Châu 46.036 đoạn Gợi nhớ (Retrieval) diễn ra thông qua sử dung các phương pháp như sơ đồ tư duy giúp kí ức trở nên sâu đậm và có the sử dụng bat cứ khi nào cần. Mục tiêu của quá trình này là củng cô và kiềm tra kiến thức, giúp người học hiệu biết chắc chắn và sửa sai nếu cần thiết. Thực tế cho thay đa số HS ngày nay gặp khó khăn trong việc ghi nhớ kiến thức lâu dai, và điều này có thé được giải thích bởi nhiều yếu tố. Một trong những nguyên nhân chính là cách giảng dạy của GV, khi họ thường khuyến khích HS thuộc lòng lý thuyết và làm nhiều bài để quen các dạng bài tập mà không tập trung vào việc giúp HS tự khám phá và hiểu sâu, kết nối kiến thức.
Diéu này dẫn đến việc các kiến thức chỉ tồn tại trong bộ nhớ ngắn hạn và để bị quên sau một thời gian ngắn. Việc áp dụng đủ ba bước học tập trên được coi là cách tiếp cận hiệu qua hơn, tạo ra sự sâu sắc và bền ving trong việc ghi nhớ kiến thức. Hiéu được điều này, nghiên cứu đã chọn sử dụng TCHT nhằm tôi ưu hóa quá trình học, giúp HS thay thú vị và tích cực hơn trong quá trình hình thành kiến thức. Điều này cũng đồng thời thúc đây sự phát trién của các phẩm chat, năng lực và động lực học tập, góp phần nâng cao hiệu suất và thành tích học tập.
Sơ đô tóm tắt 03 giai đoạn của quá trình học tập 15 Tưởng Bảo Châu 46. Quan niệm về chơi 1. Khái niệm về chơi Chơi được xem như một hoạt động tự nguyện, tự do, không ép buộc (Bùi Thị Lan Duyên, 2014; Đặng Thành Hưng, 2002; Trần Thị Kim Luôn, 2021; Trần Thị Ngọc Trâm, 1999). người chơi thực hiện các hành động theo ý thích của mình (Trần Thị Ngọc Trâm, 1999).
Ngoài ra, chơi cũng mang lại cảm xúc tích cực, trạng thái vui vẻ, phan khích cho người tham gia (Bùi Thị Lan Duyên, 2014; Hoàng Phê, 1994; Nguyễn Quang Uân et al., 2007; Tran Thị Ngọc Trâm, 1999). Hơn nữa, động cơ của hoạt động chơi nằm ở quá trình thực hiện (Bùi Thị Lan Duyên, 2014; Trân Thị Ngọc Trâm, 1999), thể hiện sự tập trung vào trải nghiệm và quá trình tham gia chứ không chỉ là kết quả cuối cùng. Từ những định nghĩa trên và trong phạm vi luận văn, chúng tôi xác định: Chơi không chỉ là một hoạt động giải trí đơn thuần mà còn là một phần quan trọng của sự phát triển con người, đặc biệt đối với lứa tuôi nhỏ. Hoạt động chơi không chỉ giúp trẻ vui đùa mà còn giúp các em học hỏi, khám phá, và phát triển cả về mặt tâm lý lẫn thể chat.
Chơi không bị rang buộc bởi kết quả cudi cùng, mà điều thú vị nằm trong quá trình tham gia và trải nghiệm. Đặc điểm của chơi Trong hoạt động chơi, có một số đặc điểm quan trọng được tác giả Trần Thị Ngọc Trâm (1999) nhắn mạnh: Dau tiên, hoạt động chơi của trẻ được xem là một biểu hiện của tính tự do, tự lực và tự tô chức. Trẻ không bị ràng buộc bởi sự can thiệp từ người lớn mà có khả năng tự quyết định và tự tô chức các hoạt động chơi theo ý thích và nhu cầu cá nhân. Thứ hai, hoạt động chơi của trẻ thường mang tính sáng tạo và đa dạng.
Trẻ có khả năng sử dụng trí tưởng tượng phong phú của mình đề tạo ra những trò chơi mới lạ vả độc dao, Thứ ba, trong quá trình tham gia hoạt động chơi, trẻ trải nghiệm và thê hiện một loạt các cam xúc, từ niém vui, hứng khởi đến sự hoi hộp, lo lắng. Diều này giúp trẻ phát trién không chỉ về mặt tinh than mà còn về mặt tâm lý và xã hội. Thứ tư, hoạt động chơi không chi là việc của một cá nhân mà là sự tham gia tích cực của toàn bộ nhân cách trẻ. Từ kĩ năng vật lý đến kĩ năng xã hội và trí tuệ, mọi khía cạnh của nhân cách trẻ đều được phát triên thông qua hoạt động chơi.
16 Tưởng Bảo Châu 46.036 Cuối cùng, vai trò của người lớn là rất quan trọng trong việc tác động tích cực lên hoạt động chơi của trẻ. Bang cách hiểu rõ đặc điểm đặc thù của hoạt động chơi của trẻ, người lớn có thé hướng dẫn và hỗ trợ trẻ phát triển một cách có mục tiêu và có kế hoạch, giúp tối ưu hóa được các lợi ích phát triển của trẻ. Tính tự do, Phat triển Phút triển Vai trò của Hình 1. Sơ đồ 05 đặc điểm của hoạt động chơi 1.
Quan niệm về trò chơi 1. Khái niệm và đặc điểm của trò chơi Tìm hiểu nhiều quan điểm về trỏ chơi của các tác giả đến từ các cấp Mam non, Tiểu học, THCS và THPT. Nghiên cứu phân tích cái nhìn chung vẻ trò chơi được đại đa số các quan điểm đồng tình. Thứ nhất, trỏ chơi là hoạt động giải trí, thư giãn và mang lại niềm vui cho con người.
Thứ hai, trò chơi có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện và phát triển nhiều khả năng của trẻ em, bao gồm cả khả năng thẻ chất, giác quan, trí tưởng tượng, và kĩ năng xã hội. Thứ ba việc sử dụng trò chơi như một phương pháp giáo dục hiệu quả, giúp HS hứng thú và tiếp thu kiến thức một cách tích cực và tự giác (Hoàng Ngọc Anh et al., 2013; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Phạm Thị Tham, 2018; Trần Đồng Lâm et al. Đề tài về trò chơi đã tạo ra một sự quan tâm lớn và gợi mở nhiều quan điểm đa dang, điều này đã khơi nguồn cho các cuộc tranh luận không ngừng về ban chat cơ bản của một “trỏ choi”, khiến cho dé xuất định nghĩa trở thành một van dé được quan tâm và thảo luận sâu sắc trong cộng đồng nghiên cứu và giáo dục. Theo đó, trò chơi được mô tả như “những hoạt động tự nguyện với các quy tắc, tạo ra các kết quả cụ thể (thắng hoặc thua) hoặc cung cấp phản hồi có thé đo lường 17 Tưởng Bảo Châu 46.036 (điểm), tạo điều kiện so sánh dang tin cậy vẻ hiệu suất của người chơi” (Juul, 2005; Klopfer et al., 2009), trong đó, Juul (2005) nhắn mạnh rằng các kết qua đa dang liên kết với các giá trị khác nhau, đòi hỏi người chơi phải cô gắng đạt được kết quả tôi ưu.
Ở khía cạnh vẻ sự quyết định, Meier (2020), một nhân vật nỗi tiếng trong thiết kế trò chơi. nhân mạnh rằng một trò chơi dién ra thông qua một chuỗi quyết định hap dan. Cùng với đó, Burgun (2013), trong tác phẩm “Game Design Theory”, đưa ra một định nghĩa hẹp hơn về trò chơi: “Mot hệ thông các quy tắc trong do các yếu tổ cạnh tranh bằng cách đưa ra các quyết định mơ hỗ”. Đối với khía cạnh niềm vui, Schell (2008), trong quyền sách “The Art of Game Design” định nghĩa một trò chơi như một hoạt động giải quyết van dé với thái độ vui vẻ, phù hợp với quan điểm của Suits & Hurka.
Ca Schell và Suits & Hurka đều nhắn mạnh tâm trạng chơi đùa của người tham gia là quan trọng trong việc tạo ra một trò chơi (Schell, 2008; Suits & Hurka, 1978). Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau. nhưng các nghiên cứu đều đồng ý rằng đặc điểm của một trò chơi thường bao gồm các quy tắc, mục tiêu, phản hôi, tương tác và kết quả. 18 Tưởng Bảo Châu 46.036 Dựa vào các định nghĩa nêu trên, chúng tôi xây dựng một định nghĩa về trò chơi như sau: Trò chơi được xúc định là một hoạt động tự nguyện, có tính giải trí và không gan với một mục tiêu cụ thé.
Trong trò chơi, người tham gia trải qua trạng thái vui vẻ. phần khích và thoải mái, từ đó thúc đây sự sáng tạo và phát triển cá nhân. Điều này ám chi rằng trò chơi không đặt áp lực hoặc mục tiêu cụ thé, mà thay vào đó tập trung vào trải nghiệm và thú vị cho người tham gia. Trạng thái tinh thần tích cực như vui vẻ và phan khích trong trò choi thường tạo điều kiện thuận lợi cho sự sang tạo và phát trién cá nhân của mỗi người.