CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA RÈN KỸ NĂNG NÓI VÀ NGHE CHO HỌC SINH LỚP 3 1. Những vấn đề chung về phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê làm chủ biên (1997), KN được định nghĩa là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”.30] Ở Việt Nam, một số tác giả như Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998) cũng quan niệm rằng “KN là một khả năng của con người thực hiện một công việc có hiệu quả”.Petropxki (1982) cho rằng để thực hiện một hành động, con người cần có kiến thức về nó. Điều này có nghĩa là phải hiểu rõ mục đích, cách thức, phương tiện và điều kiện của hành động đó. Khi chúng ta thu thập đủ kiến thức về hành động thì chúng ta có thể thực hiện nó theo các yêu cầu khác nhau của thực tiễn, hoặc nói cách khác, chúng ta đã có những KN hành động.
[1] Khuynh hướng thứ nhất: Việc thành thạo KN phụ thuộc vào nhiều mức độ như: nắm vững hành động và tri thức, áp dụng tri thức đó vào các hoạt động thực tiễn cuộc sống nhiều hay ít. Theo quan điểm của A.Petropxki (1982), KN được xem như là một cách thức hoạt động dựa trên tri thức và kỹ xảo. KN được hình thành thông qua việc luyện tập và cho phép con người thực hiện hành động cả trong điều kiện quen thuộc và đã thay đổi. [1] Khuynh hướng thứ hai: quan niệm KN nghiêng về mặt năng lực của con người để thực hiện một công việc nào đó.
Cùng quan điểm đó, X.Kixengof (1977) cho rằng “KN được nhìn nhận dựa trên khả năng của con người để thực hiện một công việc nào đó”. Theo ông, KN là khả năng thực hiện hiệu quả hệ thống hành động phù hợp 10 với mục đích và điều kiện thực hiện hành động này. KN luôn được kiểm tra bằng ý thức nhiều hay ít. Theo Huỳnh Văn Sơn (2012): “KN được xem như là khả năng thực hiện hành động mang lại kết quả thông qua việc áp dụng tri thức và kinh nghiệm có sẵn để hành động phù hợp với điều kiện cho phép.
KN không chỉ đơn thuần là khía cạnh kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực con người”.23] Đặng Thành Hưng (2015) cho rằng “KN là một dạng chuyên biệt của năng lực, không phải là khả năng của cá nhân mà là thuộc tính của cá nhân. KN là hành động tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và các điều kiện sinh học - tâm lý, xã hội của cá nhân”. Khuynh hướng thứ ba: Xem xét KN nghiêng về mặt hiệu quả của hành động.Kixêngop (1977) nhấn mạnh tính linh hoạt mềm dẻo của KN. Theo ông, người có kỹ năng không chỉ có kết quả tốt trong hành động mà còn trong cả những hoàn cảnh cụ thể [19, tr.
Như vậy, có thể hiểu: KN là sự thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động hiệu quả vào thực tiễn. Rèn kỹ năng nói và nghe cho học sinh 1. Kỹ năng nói Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất và phổ biến nhất để thực hiện hoạt động giao tiếp. Ngôn ngữ tồn tại ở hai dạng viết và nói.
Dựa trên tính chất của giao tiếp, ta có giao tiếp bằng ngôn ngữ nói (bằng lời) và giao tiếp bằng ngôn ngữ viết (văn bản). Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến hoạt động giao tiếp bằng lời, cụ thể là KN nói. KN nói là một trong những KN quan trọng cần trang bị, rèn luyện cho mỗi người. KN nói được hiểu là khả năng, trình độ biểu đạt ngôn ngữ âm 11 thanh.
Theo đó KN nói không đơn thuần chỉ là nói mà còn phải có tri thức về nói và phải thể hiện trong giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, thái độ, nét mặt,… để diễn đạt được chính xác nội dung, thể hiện đúng đắn, đầy đủ ý định, bộc lộ được những tình cảm tinh tế nhất. Vì vậy, có thể khẳng định được rằng việc rèn luyện KN nói là một hoạt động cần thiết trong nhà trường. KN nói là một trong bốn KN sử dụng ngôn ngữ (đọc, viết, nói và nghe), khái niệm KN nói có những cách hiểu như sau: Đinh Thanh Huệ và Lê A (1997) cho rằng kỹ năng nói là khả năng sử dụng âm thanh ngôn ngữ của con người để chuyển tải hiệu quả một nội dung, thông điệp của mình đến người nghe có cùng một tín hiệu âm thanh - ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. [7] Theo tác giả Nguyễn Trí, nói là hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ máy phát âm.
Trước hết, người nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn ngôn ngữ để diễn tả nội dung. Sau đó, sử dụng bộ máy phát âm để truyền đi chuỗi lời nói đã được xác định. Kỹ năng nói thể hiện ở kết quả đạt được của hoạt động giao tiếp, ở sự hiểu biết, trình độ văn hóa, phép lịch sự của con người bộc lộ qua lời nói và các yếu tố phi ngôn ngữ. [18] Những quan niệm trên cho thấy các tác giả có hai cách tiếp cận khái niệm KN nói.
Cách thứ nhất: KN nói được hiểu là hành động sử dụng ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ của con người để đạt hiệu quả trong giao tiếp. Cách thứ hai: KN nói là khả năng của con người để truyền đạt thông điệp một cách hiệu quả thông qua lời nói hoặc không lời. Nếu nhìn theo cách này, KN nói có thể bị nhầm lẫn với khái niệm năng lực, tức là khả năng thực hiện hành động hiệu quả dựa trên các nguồn lực như kiến thức, KN, thái độ và sự hứng thú. Tuy nhiên, KN nói chỉ là một yếu tố cơ bản trong cấu trúc của năng lực.
12 Kế thừa quan điểm của các tác giả, tiếp tục xem xét vấn đề đánh giá KN nói sát với mục tiêu nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cho rằng: Việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp các điệu bộ, cử chỉ, nét mặt và ánh mắt của người nói khi bắt đầu giao tiếp. Điều này giúp người nghe cảm nhận được sự giao lưu, tình cảm, thái độ và tinh thần hợp tác mà người nói dành cho mình. Đánh giá khả năng sử dụng từ ngữ và ngữ pháp một cách trôi chảy, âm lượng, nhịp điệu và giọng điệu phù hợp là một yếu tố quan trọng khác. Điều này liên quan đến việc người nói có thể sử dụng từ ngữ và ngữ pháp một cách lưu loát, giọng nói có âm lượng phù hợp, tốc độ nói và sắc thái qua giọng điệu.
Tất cả những điều này giúp người nghe hiểu rõ và chính xác những điều mà người nói muốn truyền đạt. Yếu tố phát âm đúng chuẩn chính tả và không cản trở khả năng hiểu thông tin của người nghe cũng được xem xét. Tuy nhiên, cách phát âm cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đặc thù của địa phương. Vì vậy, trong việc đánh giá, linh hoạt cần thiết nếu những yếu tố này không ảnh hưởng đến khả năng hiểu thông tin của người nghe.
Từ sự phân tích trên, kế thừa có chọn lọc các quan niệm về KN nói, chúng tôi cho rằng: KN nói là hình thức biểu hiện của năng lực giao tiếp bằng lời, dạng hành động được thực hiện một cách tích cực, tự giác dựa trên sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tri thức về ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói), những hiểu biết về văn hoá, xã hội (liên quan đến hoạt động giao tiếp bằng lời). và những điều kiện sinh học - tâm lý của một cá thể (nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân) để đạt được mục đích giao tiếp đặt ra. Kỹ năng nghe Hiện nay, mục tiêu giáo dục tập trung vào việc phát triển nhân cách của con người theo mọi mặt (đức, trí, thể, mĩ). Để thực hiện mục tiêu này, từ khi bước chân vào trường tiểu học, GV cần hướng dẫn HS nghe một cách chính 13 xác.
Nghe hiểu trong giao tiếp bao gồm nhận biết âm thanh và giọng nói, sự kết hợp của âm và giọng, nhận biết độ cao và nhịp điệu của giọng nói, cũng như hiểu nội dung văn bản. HS cần có khả năng nghe hiểu một câu chuyện ngắn phù hợp với tuổi của mình. Dựa trên những KN này, GV có thể nhận xét và chỉnh sửa để HS dần dần phát triển khả năng nghe một cách chính xác, giúp người nghe hiểu được nội dung mà HS muốn truyền đạt. Nghe là một hoạt động nhận tin nhờ bộ máy thính giác.
Trước hết, người nghe phải nghe đầy đủ, chính xác thông tin; sau đó nhờ các hoạt động tư duy mà hiểu/giải mã được các nội dung thông tin. Có 2 hình thức nghe: nghe đối thoại (trong giao tiếp hội thoại) và nghe độc thoại (trong giao tiếp truyền phát tin). Người nghe đối thoại là người trong cuộc, tham gia xác lập nội dung hội thoại. Đề tài của cuộc giao tiếp có thể được xác định trước, cũng có khi tùy theo nhu cầu, hứng thú của người tham gia và các thông tin được cung cấp trong cuộc hội thoại rất đa dạng, có thể có nhiều thay đổi so với dự kiến.
KN nghe: Nghe là một quá trình tiếp nhận thụ động, người nghe chỉ tiếp nhận mọi loại âm thanh. Tuy nhiên, lắng nghe là một quá trình tiếp nhận chủ động, người nghe có sự tập trung và mong muốn thấu hiểu đầy đủ, sâu sắc nội dung của người nói. Khi nghe, người nghe phân tích những nội dung nói và đưa ra những lời chia sẻ hoặc đối đáp, cho lời khuyên với người đối diện - người nghe. Người có KN nghe không chỉ nhận thức được những nội dung cơ bản, mà còn hiểu rõ những cảm xúc của người nói thể hiện qua các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
KN lắng nghe: Lắng nghe là quá trình tiếp nhận thông tin qua thính giác một cách có chủ ý. Lắng nghe giúp người nghe hiểu được nội dung thông tin. Hiệu quả của việc giao tiếp phụ thuộc vào KN lắng nghe. Bên cạnh đó, khi ta có KN biết lắng nghe sẽ giúp ta tiếp nhận được nhiều thông tin để hiểu ý của người nói và biết cách ứng xử phù hợp và giải quyết vấn đề hiệu quả 14 nhất.
Song, lắng nghe sao cho có hiệu quả, hiểu được nội dung của người nói thì cần phải rèn KN lắng nghe. Rèn kỹ năng nói và nghe cho học sinh lớp 3 Mối liên hệ giữa KN nói và nghe được nhấn mạnh bởi tác giả Nguyễn Trí [17, tr.