Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Trò chơi học tập 1. Trò chơi Karin Hamman (một nhà tâm lý học Đức) và Chrisma Wakhend (một nhà giáo dục học Đức) cho rằng: Vui chơi là một khái niệm không thể định nghĩa được. Bởi nó cũng giống như cuộc sống và tình yêu.
Nó là một quá trình, mà đã là một quá trình thì nó luôn luôn sống động, luôn luôn đổi thay và phát triển [25].V Enconhin định nghĩa: Trò chơi luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong các mối quan hệ xã hội [9]. Theo từ điển Tiếng Việt, do trung tâm từ điển học xuất bản năm 2003 định nghĩa “Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí.Trò chơi là một hình thức có cấu trúc của việc chơi đùa, thường thực hiện nhằm mục đích giải trí hay vui vẻ, và đôi khi được sử dụng như một công cụ giáo dục” [22]. Chữ “trò” được hiểu là một hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người. Chữ “chơi” là một từ chung để chỉ hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính.
Trong cuốn Giáo dục trẻ em, tập 3 do NXB ĐHQGHN, 1997: Trò chơi là một hoạt động độc lập - tự do và tự nguyện của đứa trẻ. Trò chơi của trẻ không phải là thật là giả vờ, giả vờ làm một cái gì đó. Nhưng sự giả vờ ấy của trẻ lại mang tính chất thật [3]. Nếu vui chơi là một thuật ngữ chỉ một dạng hoạt động giải trí tự nguyện của mọi người, tạo ra sự sảng khoái, thư giãn về thần kinh, tâm lý, thì trò chơi là một hoạt động vui chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người, có quy định luật lệ.
Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi giải trí, vừa có ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục đối với con người. Theo Đặng Thành Hưng: “Trò chơi là thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa: 1. Một kiểu loại phổ biến của chơi. Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc, định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia; 2.
Những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi, 11 bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi. Có rất nhiều quan niệm về trò chơi và trong nghiên cứu này, đề tài quan niệm: trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên là vui chơi, giải trí, thư giãn, sau đó là phát triển kiến thức, rèn luyện thể lực, phát triển các giác quan, rèn kĩ năng hợp tác, làm việc tập thể. Trò chơi học tập Theo A. Lêônchiev “Trò chơi đó được gọi là TCHT hay trò chơi dạy học là vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi khi tổ chức phải có tài liệu dạy học kèm theo phù hợp với mục đích của trò chơi” [Dẫn nguồn 6].
Kharlamôv cho rằng loại trò chơi được xem là TCHT “Đó là những trò chơi có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ em” [Dẫn nguồn 6].Crupxkaia từng nhận định: “TCHT không những là phương thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lý mà còn giúp trẻ xích lại gần nhau, giáo dục cho trẻ tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc. Trẻ em không chỉ học trong lúc học mà còn học trong lúc chơi. Chơi với trẻ vừa là học vừa là lao động, vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc” [Dẫn nguồn 13]. Theo Nguyễn Lăng Bình (chủ biên), Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng (2010): “Trò chơi học tập là phương pháp người GV áp dụng trong dạy học qua việc tổ chức các trò chơi có liên quan đến nội dung bài học, có tác dụng phát huy tích cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho HS.
Qua trò chơi HS tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời qua trò chơi phát triển tính tự giác” [9]. Như vậy có thể thấy trong giáo dục, trò chơi đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là với các em HS lớp 3. Các trò chơi giúp các em HS tiếp thu kiến thức không bị ép buộc, gò bó, khả năng tiếp thu nhanh, thu hút được người học. Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2012) thì: “Những trò chơi giáo dục được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và PPDH, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay HS tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kĩ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, 12 khoa học, ngôn ngỡ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của HS khi họ tham gia trò chơi gọi là trò chơi dạy học.
Từ những thành tựu nghiên cứu về trò chơi đã chỉ ra những đặc thù của loại trò chơi này như sau: TCHT thuộc nhóm trò chơi có luật thường là do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới việc phát triển hoạt động trí tuệ cho trẻ. TCHT có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian và trong trò chơi có chứa đựng các yếu tố dạy học. Những TCHT được truyền khẩu trong dân gian thì được gọi là trò chơi dân gian. TCHT khác với các loại trò chơi khác ở chỗ: Nhiệm vụ nhận thức và luật chơi đòi hỏi trẻ phải huy động ở mức độ cao các chức năng trí tuệ để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức đó.
Tuy nhiên, nhiệm vụ này lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị và chính điều đó nâng cao thể chất của trẻ. Khác với nhóm trò chơi có luật ẩn (các trò chơi do trẻ em tự nghĩ ra, luật chơi được ẩn đằng sau chủ đề, hành động và vai chơi). TCHT thuộc nhóm trò chơi có luật cố định (các trò chơi do người lớn nghĩ ra cho trẻ với những nội dung, nhiệm vụ và luật chơi có sẵn). TCHT khác với “tiết học” ở chỗ, trong TCHT nhiệm vụ nhận thức không đặt ra một cách trực tiếp và công khai trước trẻ mà nằm trong nhiệm vụ chơi, luật chơi và hành động chơi.
Những nhiệm vụ chơi và hành động chơi đòi hỏi trẻ phải tích cực huy động những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của mình để đạt được kết quả mà trò chơi đặt ra. Như vậy, từ những quan điểm trên, có thể hiểu TCHT là trò chơi được sử dụng trong quá trình dạy học gắn với một mục tiêu học tập nhất định, qua đó hình thành kiến thức, KN, phát triển các phẩm chất, NL theo mục tiêu dạy học đề ra. Đặc điểm của trò chơi học tập Không khí học tập thoải mái, có tính giải trí: TCHT là một dạng hoạt động vui chơi vì vậy nó mang đến cho trẻ em niềm vui sướng, thỏa mãn, bằng lòng khi được chơi và giành chiến thắng. Hướng đến mục đích giáo dục: TCHT giúp cho HS mà chơi, chơi mà học.
Trò chơi học tập là con đường thuận lợi để HS khắc sâu kiến thức khi học, đem lại cho HS cơ hội được sử dụng các kiến thức kỹ năng mà các em được lĩnh hội và rèn luyện. HS tiếp thu tự giác và được củng cố và hệ thống hóa kiến thức. 13 Đảm bảo tính nguyên tắc: TCHT là loại hoạt động vui chơi theo luật, luật của trò chơi chính là quy định nêu rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động của trò chơi. Luật chơi là các quy tắc gắn với kiến thức, kỹ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài học, giúp HS khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi, thông qua chơi HS được vận dụng các kiến thức kỹ năng đã học, được luyện tập thực hành, củng cố và mở rộng kiến thức kỹ năng đã học.
Năng lực hợp tác 1. Năng lực Theo Từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê làm chủ biên có đưa ra thì: "NL có thể được hiểu theo hai nghĩa chính: (1) Đó là khả năng hoặc điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động cụ thể; (2) Năng lực cũng ám chỉ các phẩm chất tâm lí và sinh lí của con người, cho phép họ hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao" [23]. Như vậy, theo nghĩa đầu tiên thì người nghiên cứu có thể nhận thấy rằng NL được coi là khả năng thực tế của người học thông qua việc người học có thể thành thạo một hoặc nhiều KN khác nhau. Đồng thời, theo nghĩa thứ hai thì có thể hiểu rằng NL là một tiềm năng mà người học có sẵn, khả năng này giúp cho người học có thể đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Tổ chức OECD (Tổ chức hợp tác Kinh tế và phát triển) quan niệm "Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể" [14]. Đặng Thành Hưng (2012) cho rằng: "Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó" [17]. David Mirked và cộng sự (2011) cho rằng: "Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yêu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể. Như vậy có thể thấy rằng có rất nhiều cách hiểu, cách nêu khái niệm, định nghĩa khác nhau theo ý hiểu của mỗi một tác giả, một người nghiên cứu.
Nhưng tất cả đều nêu bật lên rằng: "Nói đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Tất nhiên hành động hay 14 thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách máy móc mù quáng" [34]. Trong Chương trình GDPT tổng thể của Việt Nam (2018) đã xác định: "Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chỉ. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể" [1].