CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Phương pháp dạy học dự án 1. Khái niệm Dạy học dự án có nguồn gốc từ châu Âu từ thế kỉ XVI (ở Ý, Pháp). Đến đầu thế kỉ XX các nhà sư phạm Mỹ (Woodward, Richard, J.Kilpatrick) xây dựng cơ sở lí luận cho phương pháp này.
Ngày nay, phương pháp dạy học dự án được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới, trong tất cả các ngành học, cấp học với các tên gọi khác nhau: project method, project base learning. Thuật ngữ “dự án” trong tiếng anh là “project”, có gốc Latinh là “projicere” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế. Với quan điểm của Woodward đã coi các dự án như là: “Các bài tập tổng hợp – những kĩ năng kĩ thuật học được khi làm việc độc lập, được ứng dụng trong hoàn cảnh cụ thể” [8]. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế, xã hội, đặc trưng của nó về cơ bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án.
(DIN 69901) Như vậy, dự án được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, vật chất, nhân lực và cần được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau. Lúc bắt đầu, phương pháp dự án chỉ được áp dụng trong môn thực hành kĩ thuật, sau này được mở rộng và sử dụng rộng rãi trong hầu hết tất cả các môn học. Trong thực tế thì phương pháp DHDA vẫn còn mới mẻ đối với nhiều người vì vậy có rẩ nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về nó: Có người coi DHDA là một tư tưởng hay một quan điểm dạy học; Cũng có người coi DHDA là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng.
Tuy nhiên, có thể coi DHDA là một phương pháp dạy học phức hợp. 12 Theo Lê Đình Trung (Chủ biên), Phan Thị Thanh Hội (2018): Dạy học dự án là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, học sinh đã tìm tòi, sáng tạo và vận dụng những kiến thức đã học để tạo ra những sản phẩm. Thông qua các quá trình ấy mà học sinh phát triển được kiến thức và kỹ năng liên quan.
Chương trình dạy học dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế. [ 22 ,tr7] Trịnh Văn Biểu, Phan Đồng Châu Thủy (2019) lại đưa ra quan điểm: Dạy học dự án là một phương pháp mà chứa hai yếu tố luôn luôn song song với nhau đó là sự kết hợp giữa học tập và nghiên cứu, lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, nó có vai trò tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. [1] DHDA, chứa đựng nhiều yếu tố thực hành, phù hợp với các đối tượng học sinh. Trong các dự án học sinh sẽ được sự hỗ trợ thêm của giáo viên hoặc chuyên gia để giải quyết vấn đề, hiểu sâu nội dung hơn.
Các phương tiện kỹ thuật cũng được đảm bảo để hỗ trợ việc học. Việc đánh giá quá trình thực hiện dự án cũng linh hoạt nhằm tạo điều kiện cho học sinh tạo ra những sản phẩm có chất lượng. Như vậy, từ các quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về DHDA như sau: “Dạy học dự án là một phương pháp dạy học tích cực, Trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của giáo viên tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới hiệu, công bố được. Đặc điểm của dạy học dự án Tính liên quan: Phương pháp DHDA tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút người học vào những dự án phức tạp trong thế giới thực, người học sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng kiến thức của mình.
Nội dung bài học ý nghĩa hơn nhiều vì nó dựa trên việc học hỏi từ thực tế, từ thế giới thực và người học có thể tìm thấy hứng thú trong việc học. Tính thách thức: Học tập dựa trên dự án khuyến khích người học giải quyết những vấn đề phức tạp mang tính hiện thực. Các em khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách ý nghĩa. 13 Gây hứng thú: DHDA ghi nhận rằng phương pháp học có ý nghĩa thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá.
Khi người học có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình, giá trị của việc học đối với các em cũng tăng lên. Cơ hội lựa chọn và kiểm soát cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp cùng làm tang hứng thú học tập của các em. Tính liên ngành: DHDA yêu cầu người học sử dụng thông tin của những môn học khác nhau để giải quyết vấn đề. Trong hầu hết các dự án, người học phải làm những bài tập liên quan đến nhiều mảng kiến thức.
Tính xác thực: DHDA yêu cầu người học tiếp thu kiến thức theo cách học của “người lớn” là học và trình diễn kiến thức. Khả năng cộng tác: DHDA thúc đẩy sự cộng tác giữa học sinh và giáo viên và giữa các học sinh với nhau. Nhiều khi sự cộng tác đã được mở rộng đến cộng đồng. Sự vui nhộn: Học sinh rất thích phương pháp DHDA.
Nhiều giáo viên sử dụng phương pháp DHDA cho biết các em rất mong được tham gia vào môi trường học tập “học mà chơi, chơi mà học”. Quy trình dạy học dự án Tác giả Lê Thị Thanh Thảo đưa ra quy trình chuẩn bị cho phương pháp dạy học dự án như sau [10]: Bước 1. Xuất phát từ nội dung cần học Bước 2. Xây dựng bộ câu hỏi định hướng.
Xem những ai, lĩnh vực thực tiễn nào ứng dụng những kiến thức đó. Chọn một đối tượng, lĩnh vực cụ thể; hình dung về ý tưởng một dự án. Xem học sinh có thể thực hiện vai trò gì trong dự án liên quan chặt chẽ với nội dung cần học Bước 3. Thiết kế bài học cho học sinh Bước 4.
Thiết kế tài liệu hỗ trợ cho học sinh Bước 5. Lên kế hoạch thực hiện dự án Ở quy trình trên tác giả đã đề cập đến vấn đề rất quan trọng trong việc xây dựng dự án tổ chức cho học sinh thực hiện đó là xây dựng bộ câu hỏi định hướng. Những câu hỏi định hướng này có vai trò chỉ đạo toàn bộ quá trình người học thực 14 hiện dự án. Tuy vậy quy trình vẫn chưa làm rõ được tất cả các giai đoạn thực hiện dự án.
Chưa chỉ rõ được những việc cần làm trong quá trình lập dự án cũng như thực hiện dự án của người học. Tác giả Vũ Thị Kim Oanh lên kế hoạch thực hiện dạy học dự án thành các giai đoạn như sau [8]: Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án Người dạy và người học cùng đề xuất, xác định đề tài và mục đích dự án, chú ý đến việc liên hệ hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống, chú ý đến hứng thú người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài. Đề tài cũng có thể do người học đề xuất. Giai đoạn 2: Xác định đề cương, kế hoạch thực hiện.
Cần xác định công việc cần làm, thời gian dự kiến, dự kiến vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công cho mỗi thành viên trong nhóm. Giai đoạn 3: Thực hiện dự án, chú ý đến sản phẩm. Thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn.
Trong quá trình đó, sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra. Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm. Kết quả thực hiện dự án có thể viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn…và được giới thiệu công bố. Sản phẩm có thể là vật chất được tạo ra hoặc hành động phi vật chất.
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án. Người dạy và người học đánh giá quá trình thực hiện kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện những dự án tiếp theo. Kết quả dự án có thể được đánh giá từ bên ngoài.
Việc phân chia các giai đoạn trên chỉ có tính tương đối. Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả giai đoạn của dự án, phù hợp cấu trúc, nhiệm vụ của từng dự án khác nhau. Ở đây tác giả đã nêu khá rõ và đầy đủ các giai đoạn của quá trình DHDA.
Quy trình này là tài liệu tham khảo quan trọng giúp chúng tôi đề xuất quy trình vận dụng DHDA trong dạy học chuyên đề giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học. 15 Tuy vậy ở quy trình trên tác giả vẫn chưa làm rõ được những nội dung cần thực hiện trong bước lập kế hoạch thực hiện dự án. Một dự án chỉ có thể được tổ chức cho người học thực hiện thành công khi nó được chuẩn bị chu đáo từ việc xác định dự án, đến việc xây dựng bộ câu hỏi định hướng, các tiêu chí, phiếu đánh giá, xây dựng kế hoạch thực hiện dự án… 1. Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học 1.
Năng lực Trên toàn thế giới, lĩnh vực giáo dục đang ngày càng tập trung vào việc phát triển năng lực cho học sinh và sinh viên, và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Khái niệm "năng lực" đã trở thành một yếu tố quan trọng trong quá trình giáo dục, với nhiều nghiên cứu được tiến hành để hiểu rõ hơn về ý nghĩa và cách thức phát triển năng lực trong người học. Năng lực có thể được hiểu là khả năng đáp ứng thành công một nhu cầu, thực hiện một hành vi hay hoàn thành một nhiệm vụ. Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ là điểm khởi đầu cơ bản nhất để hiểu được sự phức tạp của khái niệm này.