CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY ĐỌC MỞ RỘNG 1. Quan niệm đọc hiểu và năng lực đọc hiểu 1. Quan niệm đọc hiểu Đọc là một công cụ giao tiếp, một phương thức lĩnh hội tri thức và tiếp cận thế giới. Để tìm hiểu đọc hiểu là gì, cần hiểu rõ như thế nào là đọc.
Lovop trong Cẩm nang dạy học tiếng Nga đã định nghĩa đọc “là một hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)” [11, tr. Nhưng, hoạt động này không chỉ đơn thuần giải mã phần chữ viết và phát âm hay hoạt động “đánh vần” thành tiếng các chữ viết, mà là quá trình nhận thức những gì đã đọc. Các chữ viết được tiếp nhận bởi mắt, qua hoạt động của cơ quan phát âm, cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc. Đọc là quá trình kết hợp giữa sự vận động của mắt ghi lại lời nói âm thanh, và sự vận động của tư tưởng, tình cảm, tạo nên mối liên hệ giữa chữ viết và ý nghĩa, khái niệm bên trong.
Các thành tố cấu thành nên hoạt động đọc bao gồm, tiếp nhận dạng thức của chữ viết, chuyển nó thành âm thanh (phân ra thành các trình độ khác nhau) và hiểu những gì đã đọc. Hiểu là gì? Đó là khả năng trả lời những câu hỏi (vì sao, như thế nào, làm thế nào…) nhận ra và nắm vững bản chất và ý nghĩa mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Hiểu là quá trình khái quát hoá nội dung và ứng dụng những nội dung đó vào cuộc sống. 6 Vậy, hoạt động đọc kết hợp với tư duy, biểu đạt, thông qua khả năng tiếp nhận của người đọc, bao quát nội dung và giải mã ý nghĩa của văn bản được gọi là đọc hiểu.
Có nhiều tác giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về hoạt động ĐH. Năm 2018, OECD, PISA đã đưa ra khái niệm, ĐH chính là “hiểu, sử dụng, phản ánh, đánh giá và kết nối với văn bản để đạt được những mục tiêu cụ thể, phát triển hiểu biết và tiềm năng của bản thân và tham gia vào xã hội” [15, tr. Đó là quá trình phức tạp từ giải mã và hiểu ý nghĩa VB, đến rút ra nội dung từ VB, liên tưởng đến kinh nghiệm cá nhân để đưa ra nhận xét, phản biện, lý giải quan điểm cá nhân đối với vấn đề và cuối cùng là ứng dụng kiến thức vào tình huống cụ thể. Từ khái niệm đó, PISA đề xuất 3 mức độ đánh giá ĐH bao gồm, thu thập thông tin, phân tích, phản hổi và đánh giá VB.
Việc đánh giá này không nằm ở đúng hay sai mà người đọc cần thể hiện quan điểm cá nhận dựa trên những lý lẽ, luận điểm phù hợp. Theo Durkin, quá trình tư duy có chủ ý, trong đó, ý nghĩa được tạo nên qua sự tương tác giữa văn bản và người đọc là đọc hiểu. Còn Rumelhart hiểu rằng quá trình tương tác giữa người đọc và văn bản là đọc hiểu. Theo tác giả Nguyễn Thị Hạnh, đọc hiểu là hoạt động giao tiếp mà người đọc lĩnh hội văn bản để thay đổi hiểu biết, tình cảm, hành vi của mình.
Tác giả Phạm Thị Thu Hương cho rằng, thông qua hệ thống các hoạt động và thao tác, người đọc kiến tạo nghĩa văn bản, quá trình đó chính là đọc hiểu. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng cho rằng, đọc hiểu sinh ra từ hoạt động đọc, nhưng không là phương pháp đọc diễn cảm hay một giai đoạn đọc, đọc hiểu có khái niệm và lý thuyết riêng. Đó là quá trình chiếm lĩnh văn bản, với mục tiêu phát triển tri thức để tham gia vào cuộc sống xã hội. Theo tác giả Steven Stahl, mục đích đầu tiên của đọc hiểu “là để có thể hiểu tài liệu được viết ra, để định giá và sử dụng cho nhu cầu của một ai đó” [11, tr.
7 Tóm lại, đọc hiểu “là một hoạt động tiếp cận văn bản và có những thu nhận, phản hồi từ những thông tin văn bản, từ đó hình thành những kỹ năng, năng lực và phẩm chất khác nhau cho người đọc” [20, tr. Bản chất của hoạt động này là quá trình nhận thức chủ động của người đọc, vận dụng các cấp bậc của tư duy, đánh giá văn bản, suy nghĩ, liên tưởng, lý giải, giải mã ý nghĩa hiện tượng, sự vật được trình bày trong văn bản. Đọc có nhiều mức độ. HS tiểu học, mới biết đánh vần cơ bản cũng là đọc, một người biết tóm gọn, lĩnh hội tri thức từ cuốn sách cũng là đọc.
Tuy nhiên, chỉ khi HS tiểu học biết đánh vần và hiểu nghĩa từ đó, mới được xem là ĐH. Tác giả Trần Đình Sử cho rằng cần hiểu đúng mới hiểu sáng tạo được, đồng thời phân ra các khâu cơ bản của đọc hiểu bao gồm: hiểu từ, hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết và hiểu nghĩa toàn bài. Người đọc muốn đọc hiểu tốt buộc phải làm chủ ngôn ngữ tiếng Việt. Qua các nghiên cứu của mình, các tác giả đều thống nhất vai trò quyết định của đọc hiểu, là năng lực then chốt với con người, trong học tập cũng như cuộc sống.
Thực tế, ở một số quốc gia, do xem nhẹ vai trò của đọc hiểu nên xảy ra hiện tượng mù chữ chức năng. Đọc là phương thức thu thập thông tin, tiếp nhận tri thức. Chữ viết đã giúp lưu lại những tri thức và thành tựu của nhân loại. Chỉ khi chiếm lĩnh được hoạt động đọc, con người mới có thể hiểu đầy đủ ý nghĩa văn bản.
Vì vậy, đọc là quá tình lĩnh hội, tiếp thu những tinh hoa đó. Hoạt động đọc giúp chúng ta biết tìm hiểu, nhận thức về cuộc sống, tư duy và đánh giá. Nhờ hoạt động đọc, chúng ta tiếp thu sự giáo dục từ xã hội và hình thành nhân cách toàn diện. Thông qua văn học, triết học, con người không chỉ nhận thức mà còn khơi dậy tình cảm, sáng tạo, bồi dưỡng tâm hồn.
Đồng thời nhờ phương tiện giao tiếp này, chúng ta có thể phần nào thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác. ĐH có ý thức giúp nâng cao trình độ ngôn ngữ và tư duy của người đọc. 8 Trong dạy đọc hiểu VB văn học ở môn Tiếng Việt, sự đồng cảm, cảm xúc được thể hiện qua các chỉ số của thanh điệu, trọng âm và nhất là ngữ điệu, vì vậy đọc sẽ tiếp thu được nhiều kiến thức và ý nghĩa hơn, ý nghĩa tác phẩm được hiểu sâu hơn trong chữ viết, bởi hoạt động đọc làm tăng cảm giác tinh tế liên quan đến âm thanh. Ở mức độ cao của ĐH, khi đọc một VB, người đọc cần nắm được thể loại, cấu trúc và nội dung của văn bản, nhìn nhận được ý nghĩa, mục đích của văn bản, với các tác phẩm văn học cần hiểu được ý nghĩa ngôn từ, và nghĩa hàm ẩn, cảm nhận được tâm tư tình cảm người viết và giá trị của văn bản.
Yêu cầu đầu tiên cần đạt được trong quá trình dạy và học ở tiểu học là đọc. Chiếm lĩnh một ngôn ngữ, đọc thành tiếng và đọc thầm là phương tiện để học các môn học khác. Để đạt được mục đích này, có thể luyện tập giao tiếp có ý thức. Nhờ việc hiểu được những gì mình đọc, các em sẽ có động lực và hứng thú học tập hơn, đây cũng là tiền đề để các em hình thành kỹ năng tự học sau này.
Hiểu và tiếp thu tri thức nhờ việc đọc, bồi dưỡng tình yêu chân thiện mĩ cho các em, dạy các em tư duy logic và sáng tạo. Nhờ đó, môi trường đọc hiểu của các em không chỉ giới hạn trong trường học mà là cuộc sống ngoài cộng đồng. Có thể nói, trong thời đại mới ngày nay, đọc là khả năng nhất định phải có. Để đọc hiểu có hiệu quả, cần có phương pháp kết nối các kiến thức cơ bản, đưa ra hệ thống câu hỏi với những hình ảnh trực quan… Có 4 mức độ đánh giá đọc hiểu như sau: 1.
Nhận biết, nhắc lại kiến thức đã học. Hiểu và trình bày, giải thích kiến thức bằng ngôn ngữ cá nhân. Vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống tương tự trong cuộc sống. Đưa ra phản hồi, đánh giá, vận dụng kiến thức linh hoạt để giải quyết các vấn đề mới trong cuộc sống.
Mục tiêu cao nhất của dạy đọc là dạy kỹ năng làm việc với VB, tiếp nhận và xử lý thông tin, tiến tới chiếm lĩnh văn bản. Nhiệm vụ của dạy ĐH cho học sinh, đặc biệt ở tiểu học, cần hình thành năng lực đọc hiểu, kĩ năng 9 làm việc với văn bản, giáo dục niềm say mê, yêu thích việc đọc, phát triển ngôn ngữ và tư duy, bồi dưỡng kiến thức văn hoá, đời sống, hình thành nên thói quen và phương pháp tự đọc, tự học. Đồng thời, qua đó, giáo dục, bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng, đạo đức cho HS. Quan niệm năng lực đọc hiểu Năng lực theo nhiều học giả, chính là khả năng kết hợp tri thức, kỹ năng, tình cảm, tư duy… một cách chủ động, linh hoạt, để giải quyết có hiệu quả một yêu cầu phức tạp trong hoàn cảnh cụ thể.
Ba yếu tố cơ bản hình thành nên năng lực bao gồm tri thức, kỹ năng và các điều kiện tâm lý. Kiến thức bao gồm những hiểu biết về cuộc sống, thiên nhiên, xã hội xung quanh, bài học tích luỹ… về lĩnh vực hoạt động. Mức độ thành thạo trong một hoạt động cụ thể, mang tính ổn định qua quá trình tập luyện được gọi là kỹ năng, nó có quan hệ qua lại với năng lực. Bởi năng lực thể hiện qua kết quả thực tế, và kết quả đó là sản phẩm trực tiếp của kỹ năng.
Những điều kiện tâm lý tác động trực tiếp đến năng lực, bao gồm động cơ, ước mơ, khả năng tư duy, trí thông minh. PISA cho rằng “năng lực đọc hiểu là khả năng biết đọc, có trình độ hiểu” Cùng với sự thay đổi trong cuộc sống theo thời gian, khái niệm về năng lực đọc hiểu cũng có thay đổi. Nó không chỉ xuất hiện trong bậc tiểu học mà được hiểu rộng ra là năng lực con người bồi dưỡng suốt đời qua sự tương tác với xã hội, ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, con người nhờ quá trình lao động thường xuyên và lâu dài, hình thành nên năng lực và “nói đến năng lực đọc hiểu là nói đến năng lực ngôn ngữ của con người” [10, tr.