Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về dạy học tạo hứng thú 1. Khái quát chung về hứng thú a. Khái niệm hứng thú Hứng thú là một hiện tượng tâm lí khá đặc biệt.
Và thuật ngữ “hứng thú” được sử dụng khá rộng rãi. Tuy nhiên, theo những góc độ khác nhau mà các nhà Tâm lí học đã có rất nhiều những khái niệm về hứng thú. Theo quan điểm tâm lí học, tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động.23] Hay một cách hiểu khái quát khác cho rằng, hứng thú là thái độ con người đối với sự vật, hiện tượng nào đó; là biểu hiện của xu hướng về mặt nhận thức của cá nhân với hiện thực khách quan, biểu hiện sự ham thích của con người về sự vật, hiện tượng nào đó. Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, hứng thú được hiểu là sự ham thích.473] Với cách hiểu như vậy thì hứng thú văn chương được hiểu là lòng say mê, ham thích các tác phẩm văn chương… Những học sinh hứng thú với văn chương là những học sinh có sự đam mê với nghệ thuật ngôn từ, không tỏ ra thờ ơ, hững hờ trước những vẻ đẹp của ngôn từ mà ngược lại các em còn say sưa tìm tòi các tác phẩm văn chương, thích đọc và ghi nhớ, ghi chép lại những câu văn, câu thơ mà mình yêu thích.
Cấu trúc của hứng thú và sự hình thành hứng thú Phân tích cấu trúc của hứng thú, N.Marôsôva đã nêu ra ít nhất 3 yếu tố đặc trưng cho hứng thú: - Có xúc cảm đúng đắn đối với hoạt động. - Có khía cạnh nhận thức của cảm xúc này (được gọi là niềm vui tìm hiểu và nhận thức). - Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tức là hoạt động tự nó lôi cuốn và kích thích, không phụ thuộc vào các động cơ khác. Những động cơ khác (động cơ tinh thần, nghĩa vụ phải thực hiện, yêu cầu của xã hội…) có thể hỗ trợ, làm nảy sinh và duy trì hứng thú, nhưng những động cơ đó không xác định được bản chất của hứng thú.
Ba thành tố nêu trên có liên quan chặt chẽ với nhau trong hứng thú của cá nhân. Ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú, mỗi thành tố có sự biến đổi. Sự hình thành hứng thú có thể diễn ra theo hai con đường tự phát hoặc tự giác. Dù sự hình thành bằng con đường tự phát hay tự giác thì trong hứng thú cũng có sự kết hợp giữa nhận thức và xúc cảm để dẫn đến tính tích cực của hành vi.
Sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm và hành vi là quá trình vận động và phát triển của hứng thú. Người có hứng thú với công việc khác hoàn toàn với người làm việc một cách ngẫu hứng hay không có hứng thú với công việc. Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú khi chúng thỏa mãn hai điều kiện sau đây: Điều kiện thứ nhất, sự vật và hiện tượng đó phải có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân. Muốn hình thành hứng thú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của sự vật và hiện tượng với cuộc sống của mình.
Nhận thức càng sâu 10 sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú. Đây được coi là điều kiện cần. Điều kiện thứ hai, sự vật và hiện tượng đó phải có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Đây được coi là điều kiện đủ.
Điều kiện này cho thấy hứng thú có quan hệ mật thiết với nhu cầu: Khi nhu cầu được thỏa mãn sẽ tạo cho con người xúc cảm tích cực. Đây chính là mặt xúc cảm, mặt thái độ trong cấu trúc của hứng thú. Điều này giải thích tại sao có những đối tượng rất cần thiết với cá nhân nhưng không tạo ra được hứng thú vì nó không phù hợp với chính nhu cầu của cá nhân đó. Trong dạy học cũng vậy, muốn hình thành cho HS hứng thú học tập phải có ít nhất hai điều kiện: Người học phải ý thức được ý nghĩa của môn học đối với thực tế cuộc sống; Nội dung môn học phải gây được tình cảm đặc biệt đối với người học.
Khi có hứng thú học tập sẽ tạo nên ở người học một khát vọng, mong muốn được tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ thông qua hoạt động học. Khát vọng và mong muốn này được biểu hiện ở chỗ người học luôn tập trung chú ý cao độ vào nội dung bài học, tự điều chỉnh hoạt động của bản thân cho phù hợp với hoạt động học tập nhằm chiếm lĩnh được nội dung học tập. Chính vì vậy, khi đã hình thành được ở HS hứng thú học tập sẽ giúp các em có một tinh thần thoải mái khi học và chắc chắn sẽ đạt kết quả cao trong học tập. Hứng thú biểu hiện trong giờ học là HS tập trung nghe GV giảng bài, không làm việc riêng, tích cực suy nghĩ … Khi chú ý theo dõi bài giảng, HS tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng bài, trả lời câu hỏi, chăm chú nghe câu trả lời của người khác và bổ sung hay góp ý cho câu trả lời của bạn, đặt câu hỏi thắc mắc về những điều mà các em chưa hiểu để giáo viên giải thích thêm.
Ngoài ra, hứng thú trong quá trình học tập còn thể hiện trong xúc cảm của học sinh. Xúc cảm này được thể hiện đó là phản ứng của học sinh khi trao đổi ý kiến trong giờ học, những phản ứng đó xuất hiện khi có một yếu tố bất ngờ làm cho học sinh ngạc nhiên hoặc khi người học thấy 11 một cái gì đó mới mẻ hơn sự hiểu biết của mình. Đó là thái độ im lặng, chăm chú sau khi phát biểu ý kiến chứng tỏ sự hồi hộp và bị cuốn hút theo dòng suy nghĩ, cảm xúc vừa thể hiện ra. Đó là việc người học có phản ứng đáp lại sự việc xảy ra trong lớp, thể hiện sự hài lòng hay thất vọng với hoàn cảnh xảy ra trong lớp học.
Đó là sự mong mỏi và thỏa mãn với kết quả hoạt động. Ngoài ra còn có những hứng thú thể hiện ngoài giờ học đó là dù đã đến giờ ra chơi nhưng học sinh không vội vàng ra chơi mà còn lên bàn giáo viên, đặt câu hỏi và nêu những thắc mắc của mình về vấn đề giáo viên vừa giảng hay có những nhóm học sinh cùng ở lại lớp thảo luận với nhau về vấn đề giáo viên đặt ra. Hứng thú thể hiện trong cách học tập, sinh hoạt của học sinh lúc ở nhà, học sinh thường làm gì vào thời gian rảnh rỗi? Lựa chọn hình thức ngoại khóa nào? Thái độ, cách thức học sinh hoàn thành nhiệm vụ được giao về nhà như thế nào?. Những biểu hiện này có liên quan và tác động qua lại lẫn nhau, chỉ có thể dựa trên toàn bộ những biểu hiện trên mới đánh giá mức độ phát triển hứng thú học tập ở người học.
Và thực tế cho thấy, HS ngồi học trong lớp chắc chắn sẽ thấy nhàm chán, không tập trung và không thấy thú vị nếu môn học đó các em không yêu thích, bài học đó cá nhân các em không có nhu cầu tìm tòi, khám phá hay chưa nhận ra bài học đó đem lại ý nghĩa gì cho bản thân mình,…Tức là khi đó ở HS chưa thể nảy sinh hứng thú. Vì vậy, người GV sẽ phải hình thành cho HS hứng thú học tập thông qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung. Có thể ngay lúc đầu các hoạt động học tập chưa mang lại hứng thú cho người học nhưng qua quá trình được trực tiếp tham gia hoạt động, thông qua hoạt động người học lại cảm thấy ngày một thích thú với hoạt động học tập đó. Do đó, ta thấy rằng nghệ thuật của giáo dục chính là nghệ thuật điều khiển, hình thành và phát triển hứng thú và năng lực của người học.
Sự kết hợp của ba môi trường giáo dục: Nhà trường, gia đình và xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành hứng thú đối với mỗi HS. Thái độ cảm xúc của người lớn, bạn bè, cha mẹ đối với các biến cố tự nhiên và xã hội, sự 12 đánh giá trong giáo dục,… có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành hứng thú ở HS. Vì vậy, căn cứ vào quá trình hình thành và phát triển hứng thú ở trẻ, trong các hoạt động học tập, GV có thể chủ động gây hứng thú cho các em, quan trọng là cần làm cho các em thấy được ý nghĩa của việc học tập và niềm vui sướng trong các hoạt động học tập đó. Như vậy, để hình thành và tạo ra hứng thú vững chắc cho HS, người GV cần làm cho các em thấy được cái mới mẻ, phong phú, tính thú vị, sáng tạo trong các hoạt động của mình.
Vai trò hứng thú Vai trò của hứng thú theo Nguyễn Hữu Nghĩa “Hứng thú làm tăng hiệu quả quá trình nhận thức, vì có quan hệ với chú ý và tình cảm nên khi đã có hứng thú thì cá nhân hướng toàn bộ quá trình nhận thức vào đối tượng, khiến quá trình nhận thức đó nhạy bén và sâu sắc hơn. Khi con người có hứng thú thường hướng toàn bộ hoạt động của mình vào đối tượng nhằm phản ánh đối tượng được tốt nhất. Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả vì hứng thú tạo ra động cơ của hoạt động. Nhờ có hứng thú giúp con người đi sâu tìm hiểu và phát hiện ra cái mới, tạo ra những sản phẩm sáng tạo thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội loài người.187] Đặc biệt, khi có hứng thú thì con người nhiều khi không để ý đến thời gian và thường làm việc một cách say sưa, không biết mệt mỏi ngay cả khi công việc có những khó khăn, con người vẫn thấy thoải mái để hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Tức là hứng thú đã tạo ra động lực cho con người, giúp con người có sức chịu đựng dẻo dai hơn với công việc. Điều này khác hẳn với những công việc con người làm khi không có hứng thú. Dạy học tạo hứng thú 13 Trong giáo dục, việc hình thành hứng thú cho người học là một việc làm hết sức quan trọng.