CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 1. Cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Năng lực Theo từ điển tiếng Việt, “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có của con người để thực hiện một hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[17], [660]. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) định nghĩa năng lực là “khả năng của con người đáp ứng một cách có hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”[25]. Weinert cho rằng Năng lực là “các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hoặc có thể có được do học tập và rèn luyện để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống” [33]. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đưa ra định nghĩa “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [2].
Hiện nay, có 2 cách hiểu về năng lực:cách hiểu theo trường phái của Anh và trường phái của Mỹ: - Khái niệm năng lực hiểu theo trường phái của Anh. Theo trường phái này năng lực được giới hạn bởi 3 yếu tố: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skill) và Thái độ (Attitude). 8 Khái niệm năng lực hiểu theo trường phái Mỹ. Năng lực là yếu tố tâm lý của cá nhân có thể giúp hoàn thành công việc hay hành động nào đó một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Năng lực con người được ví giống như một tảng băng trôi, bao gồm 2 phần: phần nổi và phần chìm. Phần nổi chiếm 10%-20% là kết quả được hình thành do nền tảng giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm, kỹ năng, cảm xúc thật. Để nhận biết được phần này, GV có thể thông qua các hình thức đánh giá, phỏng vấn, quan sát và theo dõi sổ sách. Phần chìm là phần chiếm tới 80%-90% là phong cách, là tư duy, đặc tính hành vi, sở thích nghề nghiệp, sự phù hợp với công việc của mỗi người.
Phần năng lực này không thể đánh giá thông qua các bài kiểm tra hay phỏng vấn mà phải đánh giá quá trình thông qua quan sát, thái độ, hiệu quả công việc của người đó trong một khoảng thời gian nhất định. Tự học Theo Thái Duy Tuyên khái niệm tự học là hoạt động độc lập của người học tự chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo [22]. Từ điển Giáo dục họcđinh nghĩa “Tự học” là quá trình tự bản thân mình hoạt động, lĩnh hội tri các thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành của người học mà không có sự quản lí trực tiếp từ phía cơ sở đào tạo hoặc sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên [9]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: Tự học là tự mình suy nghĩ, động não và sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất, thậm chí cả cơ bắp của bản thân để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của bản thân mình [13].
Đặng Vũ Hoạt trong công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng: tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định [12]. 9 Theo Rupšienė và Mažionienė, việc tự học của học sinh trở nên phù hợp do xu hướng GD thay đổi từ từ mô hình giảng dạy truyền thống sang cách học tập kiến tạo, phát triển năng lực người học [30]. Rajeckas cho rằng muốn hình thành và bồi dưỡng sự tự chủ của người học như một phẩm chất cá nhân và kĩ năng của người đó thì cần tạo ra những điều kiện tự nhiên khuyến khích người học hành động độc lập. Vì vậy trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập nhằm hình thành và bồi dưỡng năng lực tự học cho HS thì GV luôn đóng một vai trò quan trọng [29].
Quá trình dạy học chỉ đạt kết quả tốt khi người học tự chủ động, tự nỗ lực tìm hiểu để chiếm lĩnh những kiến thức của nhân loại. Tự học là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm đạt đến một mục đích học tập nào đó trên con đường chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân trong kho tàng tri thức của nhân loại. Năng lực tự học Nhà nghiên cứu Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra quan niệm về năng lực tự học (NLTH) như sau: “NLTH được hiểu là một thuộc tính kĩ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kĩ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra”[20].
Candy trong nghiên cứu của mình cho rằng NLTH là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố [24]. Theo Lê Công Triêm, “NLTH là khả năng tự tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” [21]. Để xác định được sự thay đổi các yếu tố của NL tự học của người học sau một quá trình học tập. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của NL tự học được bộc lộ ra ngoài thông qua các thang đo đánh giá NL tự học của người học.
NLTH là năng lực tiềm ẩn trong mỗi con người, là nội lực phát triển của bản thân mỗi người học, được thể hiện thông qua hành động, thái độ trong học tập. Khi người học biết cách tiếp cận, thu thập, xử lí thông tin và tự kiểm 10 tra, đánh giá tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khác nhau thì có thể cho rằng người học là đã nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học. Trong CT GDPT 2018, NL tự học của HS phổ thông nằm trong nhóm NL tự chủ và tự học. Đây là một trong ba nhóm NL chung cần hình thành cho HS ở cả ba cấp học, bao gồm: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Thích ứng với cuộc sống; Định hướng nghề nghiệp; Tự học, tự hoàn thiện [4].
Như vậy, về cơ bản có thể hiểu: NL tự học là một thành tố cơ bản của NL học tập. NL tự học là thuộc tính của cá nhân, được biểu hiện thông qua việc xác định và thực hiện nhiệm vụ học tập tự giác, chủ động, đạt được kết quả học tập mong muốn và thể hiện quá trình học tập hiệu quả. Quá trình học tập của người có NL tự học bao gồm: - Xác định nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động. - Tự đặt mục tiêu học tập phù hợp với bản thân.
Quyết tâm đạt được mục tiêu đã đề ra. - Tự chuẩn bị các phương tiện học tập cần thiết. - Thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả. - Tự đánh giá và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp các vấn đề khó khăn trong học tập mà không tự mình giải quyết được. Trong quá trình HS tham gia các hoạt động học tập trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3, NL tự học được biểu hiện thông qua các việc sau đây: - HS yêu thích môn học. - HS tự giác, chủ động chuẩn bị các đồ dùng phục vụ cho bài học. - HS tích cực tham gia các hoạt động học tập ở lớp và ở nhà.
- HS tự đánh giá và điều chỉnh, rút ra những bài học cho bản thân sau các hoạt động học tập. 11 - HS có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng cố, mở rộng hiểu biết và luôn luôn có ý thức học tập, chủ động chiếm lĩnh tri thức. Thông qua quá trình tổng quan các tài liệu kể trên, trong phạm vi nghiên cứu này, theo chúng tôi “NLTH là khả năng người học độc lập, tự giác từ việc xác định mục tiêu học tập, thiết kế và thực hiện kế hoạch học tập đến việc tự đánh giá và điều chỉnh việc học nhằm tối ưu hóa quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân” 1. Một số vấn đề về phát triển năng lực tự học 1.1 Biểu hiện của năng lực tự học Candy đã liệt kê 12 biểu hiện của người có NLTH như sau [24]: Sơ đồ 1.
Biểu hiện của người có năng lực tự học. Theo Candy để xác định người học có NLTH hay không,có thể dựa trên hai nhóm biểu hiện là tính cách và phương pháp học của người đó. Do đó phương pháp tổ chức các hoạt động học tập của GV của sẽ có tác động tích cực đến phương pháp học tập của HS. GV tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì năng lực tự học cho HS.
12 Tính cách của con người được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bởi yếu tố tâm lí. Vì vậy trong quá trình dạy học GV nên tạo môi trường để HS được thử nghiệm, kiểm chứng cách kiến thức và kinh nghiệm của bản thân. Tạo cơ hội cho HS thể hiện quan điểm của mình, bộc lộ các phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học. Taylor khi nghiên cứu về vấn đề tự học của HS đã xác định NLTH có những biểu hiện sau [31]: Sơ đồ 1.
2: Những biểu hiện của NLTH theo Taylor Taylor cho rằng người có năng lực tự học là người có động cơ học tập bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu học tập, có kĩ năng hoạt động phù hợp. Thông qua mô hình trên, Taylor đã phân tích ba yếu tố cơ bản của người có năng lực tự học là người có các biểu hiện về mặt thái độ, tính cách và kĩ năng.