Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về sự hợp tác và kỹ năng hợp tác của Sinh viên * Trên Thế giới Hợp tác là yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống. Xét về mặt xã hội hợp tác diễn ra trong suốt cuộc đời con người, gia đình và cộng đồng.
KNHT là một trong những kỹ năng quan trọng giúp con người giải quyết có hiệu quả những vấn đề xảy ra trong học tập, sinh hoạt và cuộc sống. Vấn đề này được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Từ những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, Andrew Beii và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, họ chia người học thành nhiều nhóm để hoạt động. thông qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học tập tốt.
Ý tưởng học tập hợp tác được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như: Jonh Dewey, Roger Parker… họ đề cao khía cạnh xã hội của việc học tập và nâng cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục người học một cách dân chủ. Dewey cho rằng muốn học cách chung sống trong xã hội thì người học phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hóa trong thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học. Trong khoảng thời gian từ năm 1930 - 1940, nhà tâm lý học Kurt Lewin tạo nên một dấu ấn mới trong lịch sử phát triển tư tưởng giáo dục hợp tác.
Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách thức cư xử trong nhóm khi nghiên cứu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành vi của các lãnh đạo và các thành viên trong nhóm dân chủ. Sau đó, Momton Deutsch đã phát triển lý luận về hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở “Những lý luận nền tảng" của Lewin. Năm 1940, Momton Deutsch đưa ra “Lý thuyết về các tình huống hợp tác và cạnh tranh". Tác giả đã xây dựng các tình huống đòi hỏi phải tăng cường sự cạnh tranh lành mạnh giữa người học với nhau, giữa nhóm với nhóm qua đó thực hiện mục tiêu đề ra.
Stuart Cook cùng với sự cộng tác của Shirlay và Larence đã tiến hành một nghiên cứu về tác động của sự tương tác hợp tác đến các mối quan hệ giữa các sinh viên cao đẳng da trắng và da đen. James Coleman, Milland G. Madsen và các cộng sự của ông đã nghiên cứu quan sát sự tương tác hợp tác và tranh đua trong các trường trung học tại Mỹ. Một số nhà nghiên cứu có tên tuổi như là Coleman và Glasser tuyên bố mục tiêu chính của nhà trường là giáo dục người học trở thành những người biết hợp tác với những người khác.
Johnson và các cộng sự của mình, tính đến năm 1989 đã có tới 193 nghiên cứu về giáo dục hợp tác. Theo ông, giáo dục hợp tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn hình thức tác động khác. Bằng nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của giáo dục hợp tác với tư duy phê phán, lòng tự trọng, các mối quan hệ về chủng tộc, dân tộc, các hành vi xã hội và nhiều tiêu chuẩn khác, các nghiên cứu của nhóm này đã chỉ ra rằng giáo dục hợp tác tỏ ra ưu việt hơn đa số các hình thức giáo dục truyền thống. Như vậy, trong lịch sử giáo dục thế giới các nghiên cứu về giáo dục hợp tác xuất hiện tương đối sớm.
Hiện nay, giáo dục hợp tác được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. * Ở Việt Nam Vấn đề hợp tác và kỹ năng hợp tác đã được một số nhà nghiên cứu đề cập tới. Tác giả Thái Duy Tuyên trong tài liệu “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới" [28] đã đề cập tới: hợp tác là gì? tầm quan trọng của hợp tác, bồi dưỡng kỹ năng hợp tác. Tác giả cho rằng: Sự hợp tác là một yếu tố không 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể thiếu trong cuộc sống.
Sự hợp tác diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi người, diễn ra trong mọi gia đình, trong mọi cộng đồng khi các thành viên hoạt động để đạt mục đích chung. Trong các tình huống hợp tác, các cá nhân có thể thấy họ đạt được mục tiêu của mình, khi và chỉ khi các thành viên khác cũng đạt được mục tiêu đó. Tác giả cũng khẳng định, KNHT là một loại kỹ năng quan trọng đối với con người, bởi vì các mối quan hệ của con người chủ yếu là hợp tác. Mọi kỹ năng liên quan tới cá nhân, nhóm, tổ chức đều được gọi là kỹ năng hợp tác.
Do đó, việc rèn luyện các KNHT ngay từ khi trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường là rất quan trọng. Tác giả Đặng Thành Hưng, trong một số công trình nghiên cứu đã bàn luận khá sâu sắc về vấn đề nhóm hợp tác và dạy học hợp tác [13]. Tác giả cho rằng: Quan hệ giữa người học với nhau trong quá trình dạy học hiện đại nói chung mang tính hợp tác và tính cạnh tranh tương đối. Tính chất này của dạy học làm cho nó năng động hơn, có động lực công khai và có chiều hướng hiệu quả hơn.
Ngoài những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên, trong những năm gần đây có một số luận án đi sâu nghiên cứu về vấn đề này như: Luận án tiến sỹ của tác giả Lê văn Tạc (2015), "Dạy học hòa nhập cho trẻ khiếm thính bậc tiểu học theo phương thức hợp tác nhóm"đã đề cập đến vấn đề tổ chức dạy học hòa nhập trên lớp cho trẻ khiếm thính bậc tiểu học theo phương thức hợp tác nhóm để nâng cao kết quả học tập, tăng cường hiệu quả giao tiếp và kỹ năng xã hội của trẻ khiếm thính và trẻ bình thường trong lớp" [18]. Tác giả Phạm Thị Thu Hương, "Một số biện pháp hình thành thành tính hợp tác qua trò chơi đóng vai theo chủ đề cho mẫu giáo 3 - 4 tuổi". Tác giả Nguyễn thị Quỳnh Phương với luận án Tiến sỹ Giáo dục học: "Rèn luyện kỹ năng hợp tác cho Sinh viên sư phạm trong hoạt động nhóm”. Như vậy, vấn đề hợp tác của học sinh, sinh viên đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đa số các tác giả đều cho rằng hợp tác là một yếu tố không thể 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiếu trong cuộc sống xã hội, do đó cần phải rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh trong các hoạt động.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chủ yếu phân tích vai trò của hợp tác và rèn luyện kỹ năng hợp tác trong quá trình dạy học. Nghiên cứu về phát triển KNHT cho sinh viên thông qua HĐGDNGLL * Trên Thế giới Trong lịch sử, các nhà giáo dục rất quan tâm đến việc giáo dục người học qua HĐGDNGLL. Nhà sư phạm học J. Coomenxki đã cho rằng: “Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà là lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ”.
Robest Owen đã rút ra kết luận là phải kết hợp giáo dục giáo dục với lao động với các hoạt động xã hội. Lênin đưa ra nhận định “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân và nông dân”… [19]. Các nhà giáo dục phương Tây cũng rất quan tâm đến HĐGDNGLL.Dewey cho rằng "Giáo dục không phải là chuẩn bị cho đời sống tinh thần mà chính là cuộc sống. Phải kết hợp chặt chẽ giáo dục trong lớp, trong trường với giáo dục ngoài lớp, ngoài trường.
Học cách làm với nguyên tắc giáo dục không phải là thu nhận mà là hành động [15]. UNESCO đã có những tư tưởng định hướng cho giáo dục thế kỷ XXI: “Giáo dục vì một xã hội toàn cầu, vì một thế giới đa văn hóa”. Những kỹ năng sống như xử lý tình huống, làm việc theo tinh thần cộng đồng… sẽ nằm trong tay người học, nếu họ tham gia vào các hoạt động xã hội và nghề nghiệp song song với việc học tập. Trong bản báo cáo gửi UNESCO của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, Jacques Delors đã đưa ra bốn trụ cột của giáo dục, trong đó “học để chung sống" là một trong bốn trụ cột đó.
“Bằng cách phát triển sự hiểu biết về người khác và sự cảm nhận tính phụ thuộc lẫn nhau trong việc thực hiện những dự án và học giải quyết xung đột, với tinh thần tôn trọng các giá trị đa phương, sự hiểu biết lẫn nhau và hòa bình” [14]. Tuy nhiên, các nhà ngiên cứu HĐGDNGLL ở các nước quan niệm đó là hoạt động tự nguyện, tự giác, có sự tổ chức của nhà trường và xã hội. Do không được thể chế hóa nên chưa đạt hiệu quả như mục tiêu giáo dục mong đợi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Ở Việt Nam Việc nghiên cứu phát triển kỹ năng cho sinh viên trong những năm gần đây đã được nhiều tác giả nghiên cứu, trong đó phải kể đến nghiên cứu của các tác giả Đặng Thành Hưng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Minh Phương… Một số luận án tiến sỹ cũng đã nghiên cứu về vấn đề phát triển kỹ năng như: Tác giả Nguyễn Thị Thanh, “Dạy học theo hướng phát triển kỹ năng học hợp tác cho sinh viên Đại học sư phạm.
Tác giả Dương Thị Nga, “Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm”… - Nguyễn Lê Đắc với công trình nghiên cứu “Cơ sở tâm lý học của công tác giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư" [4] đã vạch ra vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư đối với sự phát triển tâm lý học sinh. - Nguyễn Dục Quang (chủ biên) cuốn “Giáo trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp" [22] dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở đề cập tới vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung chương trình HĐGDNGLL… Ngoài ra còn một số luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp có đề cập tới các khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL.