Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Phú Thọ 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KTTT ĐỊNH HƢỚNG XHCN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và bản chất của kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN 1. Khái niệm sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân 1. Sở hữu tư nhân Sở hữu là một phạm trù kinh tế vừa có tính chất xuất phát điểm vừa cơ bản của kinh tế chính trị học.
Nếu chiếm hữu là hoạt động có tính tự nhiên của con người nhằm khai phá và chinh phục thiên nhiên để tạo ra của cải, thì sở hữu là hình thức xã hội của chiếm hữu. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: Sở hữu là phương thức chiếm hữu mang tính lịch sử cụ thể của con người những đối tượng dùng vào mục đích sản xuất và phi xản xuất. Cụ thể hơn, sở hữu là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất đó. [39] Nội dung của sở hữu luôn được xem xét trên hai mối quan hệ: quan hệ giữa chủ thể sở hữu với đối tượng sở hữu và quan hệ người với người trong quá trình sản xuất.
Về mối quan hệ thứ nhất: quan hệ giữa chủ thể sở hữu với đối tượng sở hữu. Ở đây chủ sở hữu thường có đủ ba quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản, trong đó chiếm hữu được coi là hình thức và nội dung đầu tiên của sở hữu. Còn đối tượng của sở hữu bao giờ cũng đa dạng và khác nhau về chủng loại. Nhìn chung, trong quá trình phát triển của lịch sử, đối tượng sở hữu luôn có sự thay đổi để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với sự vận động của phương thức sản xuất.
Trong xã hội hiện đại, đối 8 tượng sở hữu trở nên đa dạng và phong phú hơn: từ đồ vật tiêu dùng đến tư liệu sản xuất; từ đối tượng sở hữu hữu hình đến sở hữu vô hình (như: trí tuệ, thông tin, bí quyết công nghệ, thương hiệu,…); từ hàng hóa đồ vật cá nhân đến hàng hóa công cộng…Thực tiễn này cho thấy, việc coi sở hữu đồng nghĩa với sở hữu tư liệu sản xuất là cách tiếp cận còn phiến diện, là không phù hợp với cuộc sống hiện nay. Xét về mối quan hệ thứ hai, tức là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, đó là mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy. Chủ nghĩa Mác – Lênin coi sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa người với người, giữa các giai cấp, giữa các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội. Quan hệ này thay đổi tùy theo sự thay đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội trong đời sống xã hội.
Chính những quan hệ mới này là những quan hệ kinh tế về sở hữu mang tính chất kinh tế - xã hội và quy định trước hết các hình thức phân phối tài sản, sản phẩm thu nhập giá trị giữa các chủ sở hữu. Khi coi sở hữu là quan hệ xã hội của sự chiếm hữu, cần phải xem xét nó ở hai bình diện là nội dung pháp lý và nội dung kinh tế của sở hữu. Nội dung pháp lý của sở hữu quy định đối tượng của sở hữu thuộc quyền của ai. Nội dung kinh tế của sở hữu thể hiện một hệ thống các quan hệ kinh tế rất phức tạp giữa con người với con người, các tập thể người với nhau trong việc vận dụng khai thác các nguồn lực kinh tế - xã hội.
Quan hệ sở hữu cũng không thể tách rời quan hệ tổ chức, quản lý, phân phối được thể hiện qua quan hệ lợi ích kinh tế. Trong xã hội hiện đại, phần lớn các quan điểm đều cho rằng, mặc dù rất phong phú, đa dạng, những trên thực tế chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp. Ở nước ta, đại hội IX 9 của Đảng xác định, hiện nay có ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Nhận thức được tính đa dạng, phong phú của sở hữu và tìm cách vận dụng chúng là đòn bẩy quan trọng để mở đường thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Bản chất của sở hữu trong CNXH là góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất, là phát triển lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống người dân. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, việc nhận thức sở hữu theo tư duy mới là vấn đề quan trọng để phát huy bản chất, vai trò động lực của sở hữu trong quá trình xây dựng CNXH. Theo điều 211 Bộ luật dân sự (năm 2005): sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.
Theo khái niệm trên thì sở hữu tư nhân bao gồm hai lĩnh vực: thứ nhất, lĩnh vực tiêu dùng cá nhân, mà ta thường hiểu là: sở hữu cá nhân; thứ hai, lĩnh vực sở hữu về các nguồn lực được đưa vào sản xuất, mà ta hiểu là: sở hữu tư nhân. Khái niệm này đã khắc phục được quan niệm trước đây cho là: sở hữu tư nhân đồng nghĩa với sở hữu tư bản tư nhân. Thực tế cho thấy: sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân tuy khác nhau về trình độ song có chung bản chất, đó là sở hữu tư nhân. Trước đây, khái niệm sở hữu tư nhân thường khó chấp nhận hơn sở hữu cá nhân, điều đó bắt nguồn từ hệ tư tưởng truyền thống.
Tuy nhiên, các nhà kinh tế học thường cho rằng chính khái niệm sở hữu tư nhân mới là hiện thực, vì nó có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất – kinh doanh nói chung. Trong khi đó, sở hữu cá nhân đặc trưng cho tiêu dùng cá nhân, là hình thức sở hữu đơn sơ chưa có tác dụng nhiều đến thúc đẩy sản xuất. Thực chất xét về nguồn gốc lịch sử, sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu tồn tại lâu đời qua nhiều phương thức sản xuất, chúng là hệ quả quan trọng và 10 trực tiếp của quyền tự do cá nhân, quyền được phát huy mọi tiềm năng vốn có của mỗi cá nhân. Kể từ khi xuất hiện xã hội có giai cấp, thực tiễn cho thấy khó có thể thay thế sở hữu tư nhân bằng một động lực nào đó có thể lớn hơn hoặc bằng nó trong phát triển kinh tế.
Chỉ trong một thời gian ngắn, cùng với sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân, loài người đã có những bước tiến khổng lồ về thành tựu kinh tế. Cho đến nay, những động lực do sở hữu tư nhân tạo ra vẫn phát huy mạnh mẽ vai trò của nó. Như vậy, có thể hiểu sở hữu tư nhân như sau: Sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất - kinh doanh, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh đó. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân.
Kinh tế tư nhân Thuật ngữ kinh tế tư nhân tùy thuộc vào những cách tiếp cận mà có những cách hiểu dẫn đến những khái niệm khác nhau. Ở các nền kinh tế thị trường phát triển, mọi hoạt động kinh tế nếu không thuộc khu vực công đều được coi là khu vực kinh tế tư nhân. Ở Trung Quốc, khu vực kinh tế tư nhân cùng lúc được hiểu là: - Khu vực phi nhà nước: bao gồm tất cả các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước, cả trong công nghiệp và nông nghiệp. - Khu vực phi nhà nước, phi nông nghiệp: gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước, nhưng loại trừ lĩnh vực nông nghiệp.
- Khu vực tư nhân: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể. - Khu vực tư nhân trong nước: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp nước ngoài. 11 - Doanh nghiệp tư nhân: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước nhưng loại trừ các hộ cá thể (có ít hơn 8 công nhân) [41, trang 17] Trong những trường hợp cụ thể khi sử dụng những khái niệm trên, số liệu thống kê thường chênh lệch nhau khá lớn. Theo Kornai Janos, nhà kinh tế học người Hungary, tác giả của cuốn sách “Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường”, thì khu vực kinh tế tư nhân là những gì thuộc về: kinh tế hộ gia đình, xí nghiệp tư nhân chính thức, xí nghiệp tư nhân phi chính thức hoạt động như một đơn vị “kinh tế ẩn” và thậm chí bất kể sử dụng tài sản của tư nhân vào việc hữu ích nào.
[11, trang 20] Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế tư nhân: - Theo nghĩa rộng, khu vực KTTN là khu vực dân doanh bao gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nước, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp, các doanh nghiệp phi nông nghiệp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh hay 100% vốn. Cách hiểu trên sẽ đánh giá tương đối chính xác tiềm năng của khu vực KTTN, tuy nhiên thường gặp khó khăn trong thống kê, khi không phân biệt được phần vốn góp của nhà nước trong các liên doanh cũng như các công ty cổ phần mà nhà nước góp vốn.