CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Khái niệm và đặc điểm của kinh tế tư nhân 1. Khái niệm kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân (KTTN) là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào sản xuất kinh doanh. Nó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của Nhà nước.
Theo tinh thần nghị quyết TW5 Khóa IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam: “Kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân” Khu vực kinh tế tư nhân: là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Hiện nay ở các quốc gia có rất nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế tư nhân. Ở các quốc gia phát triển thì mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đều được coi là khu vực kinh tế tư nhân. Các công ty tư nhân hay các hợp tác xã, các công ty hợp danh của một nhóm người hay các công ty cổ phần xuyên quốc gia cũng đều có đặc điểm chung là những đơn vị sản xuất kinh doanh không phải của Nhà nước, các quyết định cho hoạt động của doanh nghiệp luôn do cá nhân, hay đại diện của một nhóm cá nhân đề ra.
Việc nhìn nhận này không chỉ thấy hết tiềm lực kinh tế tư nhân của một quốc gia, mà còn là cơ sở cho phương thức quản lý thống nhất, bình đẳng đối với các loại hình sản xuất kinh doanh trong xã hội. 7 Ở Việt Nam cũng có những cách hiểu khác nhau về khu vực kinh tế tư nhân: * Cách hiểu thứ nhất: Khu vực kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới dạng liên doanh hay 100% vốn nước ngoài. Các DNTN trong nước bao hàm cả các hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Việc hiểu khu vực KTTN theo nghĩa rộng như vậy tạo cơ sở đánh giá hết tiềm năng của KTTN đối với phát triển kinh tế Việt Nam, song lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch phần góp vốn của Nhà nước trong các công ty cổ phần, cũng như trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Hơn nữa, theo cách phân biệt này, việc phân tích đôi khi sẽ gặp khó khăn, bởi không phải tất cả các bộ phận trong khu vực KTTN đều được Nhà nước đối xử như nhau. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung luôn nhận được những điều kiện thuận lợi hơn các DNTN trong nước, cũng như công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ kinh doanh cá thể. * Cách hiểu thứ hai: Khu vực KTTN cũng có thể được hiểu là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cách nhìn này dựa trên việc chia nền kinh tế thành ba khu vực kinh tế: Khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Một số chuyên gia cho rằng việc đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi khu vực KTTN trong nước sẽ không đánh giá đúng tiềm năng, cũng như vai trò của khu vực này cho sự phát triển kinh tế Việt Nam đặc biệt trong điều kiện kinh tế mở, từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế hiện nay. * Cách hiểu thứ ba: Khu vực KTTN bao gồm các loại hình DNTN trong nước, nhưng không bao hàm hộ kinh doanh cá thể. Cách hiểu này bộc lộ nhiều hạn chế. Tuy nhiên, các số liệu thống kê của Việt Nam thường theo cách phân loại này.
8 * Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: Việc hiểu KTTN gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế và trong nền kinh tế của nước ta theo quan niệm lúc đó có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Hộ kinh doanh cá thể là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất. Hình thức này chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, việc sử dụng lao động làm thuê không thường xuyên. Hộ kinh doanh cá thể là đơn vị kinh tế độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất và tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính của mình.
Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Các loại doanh nghiệp này là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế tư bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất. * Theo quan điểm của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: việc hiểu kinh tế tư nhân tiếp tục gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế. Đảng ta xác định có 5 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Kinh tế tư nhân gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, được xác định có vai trò quan trọng, là động lực của nền kinh tế. Theo cách hiểu của tác giả, kinh tế tư nhân có thể được khái quát như sau: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp kinh doanh dựa trên vốn sở hữu tư nhân. Đặc điểm của kinh tế tư nhân 9 Thứ nhất, kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về vốn, tư liệu sản xuất. Quy mô và hình thức sở hữu rất đa dạng: sở hữu tư nhân một chủ (doanh nghiệp tư nhân), sở hữu hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh).
Thứ hai, bộ máy và đội ngũ quản lý gọn nhẹ và rất năng động, bộ máy tổ chức điều hành doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp quyết định; có thể tự điều hành hoặc thuê mướn người điều hành doanh nghiệp. Thứ ba, việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư và sản xuất, phân phối sản phẩm do chủ doanh nghiệp tự quyết định. Quy mô, số lượng sản phẩm sản xuất phụ thuộc vào năng lực tài chính, khả năng vốn của doanh nghiệp và hầu hết các sản phẩm sản xuất ra trước hết là nhằm phục vụ cho thị trường trong nước. Hiện nay, tuy kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã được thừa nhận và khuyến khích phát triển nhưng các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ chiếm đại đa số nên thực sự còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế.
Đó sẽ một khó khăn và thách thức không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam Những năm trước khi đất nước ta chưa được giải phóng, miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ cùng chính quyền Việt Nam cộng hòa thì nền kinh tế lúc bấy giờ chủ yếu dựa vào sự chi viện của nước ngoài và kinh tế tư nhân. Sau năm 1975, khi miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước thì quá trình phát triển kinh tế tại miền Nam giai đoạn này hầu như áp dụng nguyên vẹn các chính sách, đường lối kinh tế đã thực hiện ở miền Bắc giai 10 đoạn trước đó, đặc biệt là trong giai đoạn 1975-1979: các chính sác kinh tế được thực hiện tại miền Nam đó là việc thực hiện mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đó là thực hiện kế hoạch kinh tế 5 năm, là cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa.nhằm mục tiêu đưa Việt Nam bước qua thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Để quán triệt đường lối phát cho triển kinh tế giai đoạn mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đã xác định: “ nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo XHCN ở miền Nam, có nghĩa là xóa bỏ triệt để quyền chiếm hữu phong kiến về ruộng đất, quốc hữu hóa những cơ sở công thương nghiệp, cải tạo XHCN đối với tư bản tư doanh, đưa nông dân, hộ thủ công, thương nghiệp nhỏ vào hợp tác xã ’’.
Mặc dù trên lý luận, Đảng ta thừa nhận nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH có nhiều thành phần kinh tế, nhưng trong thực tế một số thành phần kinh tế luôn bị ngăn cấm phát triển và phạm vi hoạt động càng ngày càng bị thu hẹp dần, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân. Dù bị ngăn cấm và bị chèn ép nhưng thành phần kinh tế này vẫn hoạt động, dù không công khai, hầu hết các “ hoạt động ngầm”này Nhà nước dù biết nhưng không thể kiểm soát hết được. Trong khi đó, việc tồn tại và hoạt động của kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể thì kém phát triển, trì trệ; các công ty hợp doanh, hợp tác xã, tổ hợp sản xuất .chỉ là hình thức, chưa cho thấy bóng dáng của một mô hình kinh tế thực sự cho nên nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này kém phát triển và gặp rất nhiều khó khăn.