Luận Văn Thạc Sĩ Về Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Tại Quảng Ninh (1991-2005)

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tiến Sĩ

2015

138
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỦ ĐỘNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000

1.1. Các yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.3. Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.4. Thực trạng kinh tế tư nhân của tỉnh Quảng Ninh trước năm 1991

1.5. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2000

1.5.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

1.5.2. Sự chỉ đạo thực hiện

1.5.3. Chỉ đạo phát triển về ngành nghề, về số lượng, về vốn

1.5.4. Chỉ đạo hoạt động khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân

1.5.5. Chỉ đạo phát triển Đảng, công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn

1.6. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

2.1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

2.1.1. Bối cảnh và yêu cầu mới

2.2. Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2001-2005)

2.2.1. Sự chỉ đạo thực hiện

2.2.2. Chỉ đạo phát triển về số lượng, về ngành nghề, về vốn

2.2.3. Chỉ đạo hoạt động cổ vũ, biểu dương, khuyến khích doanh nhân, doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh

2.2.4. Chỉ đạo công tác phát triển Đảng, xây dựng công đoàn cơ sở

2.3. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Về hạn chế

3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử

3.3. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với kinh tế tư nhân, không ngừng đổi mới về tư duy trong suốt quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân

3.4. Tiến hành tạo lập môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho thành phần kinh tế tư nhân hoạt động, không ngừng sáng tạo, đổi mới và phát triển

3.5. Đẩy mạnh hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về kinh tế của tỉnh Quảng Ninh về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như thái độ làm việc để tạo động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế tư nhân

3.6. Tiểu kết Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Tại Quảng Ninh 1991 2005

Phát triển kinh tế tư nhân tại Quảng Ninh từ năm 1991 đến 2005 là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử kinh tế của tỉnh. Trong thời kỳ này, kinh tế tư nhân đã dần khẳng định vai trò của mình trong cơ cấu kinh tế địa phương. Sự chuyển mình này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong chính sách của Đảng mà còn là kết quả của những nỗ lực từ phía các doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế tư nhân đã góp phần tạo ra nhiều việc làm, thúc đẩy sản xuất và nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để phát triển bền vững.

1.1. Khái Niệm Kinh Tế Tư Nhân Và Vai Trò Của Nó

Kinh tế tư nhân được hiểu là khu vực kinh tế do cá nhân hoặc tổ chức tư nhân sở hữu và quản lý. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Quảng Ninh rất quan trọng, đặc biệt trong việc tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ lệ đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP của tỉnh đã tăng đáng kể trong giai đoạn này.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Tại Quảng Ninh

Giai đoạn 1991-2005 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân tại Quảng Ninh. Từ những chính sách khuyến khích đầu tư, đến việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, các doanh nghiệp tư nhân đã có cơ hội phát triển. Sự thay đổi trong nhận thức của chính quyền địa phương về vai trò của kinh tế tư nhân cũng là một yếu tố quan trọng.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Tại Quảng Ninh

Mặc dù kinh tế tư nhân đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các doanh nghiệp tư nhân thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn, thị trường và công nghệ. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tạo ra áp lực lớn. Để vượt qua những thách thức này, cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể từ chính quyền.

2.1. Khó Khăn Trong Tiếp Cận Vốn Đầu Tư

Một trong những thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp tư nhân là việc tiếp cận vốn đầu tư. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thuyết phục các ngân hàng cho vay do thiếu tài sản đảm bảo. Điều này đã hạn chế khả năng mở rộng sản xuất và đầu tư vào công nghệ mới.

2.2. Cạnh Tranh Từ Doanh Nghiệp Nhà Nước

Doanh nghiệp tư nhân thường phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp này thường được ưu đãi về vốn và chính sách, điều này tạo ra một môi trường cạnh tranh không công bằng cho các doanh nghiệp tư nhân.

III. Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Của Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ninh

Chính sách phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 1991-2005 đã có nhiều thay đổi tích cực. Các chính sách này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân mà còn khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong sản xuất. Đảng bộ đã nhận thức rõ vai trò của kinh tế tư nhân trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

3.1. Các Chính Sách Khuyến Khích Đầu Tư

Đảng bộ tỉnh đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực kinh tế tư nhân. Những chính sách này bao gồm việc giảm thuế, hỗ trợ vay vốn và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mới thành lập.

3.2. Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý

Cơ chế quản lý cũng đã được đổi mới để phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế tư nhân. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường hỗ trợ từ các cơ quan chức năng đã giúp doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả hơn.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Tại Quảng Ninh

Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh tế tư nhân đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân và sự đa dạng trong các lĩnh vực hoạt động đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm và nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, vẫn cần có những giải pháp để phát triển bền vững hơn.

4.1. Tăng Trưởng Số Lượng Doanh Nghiệp Tư Nhân

Số lượng doanh nghiệp tư nhân tại Quảng Ninh đã tăng lên đáng kể trong giai đoạn này. Theo số liệu thống kê, từ năm 1991 đến 2005, số lượng doanh nghiệp tư nhân đã tăng gấp ba lần, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của khu vực này.

4.2. Đóng Góp Vào Tăng Trưởng Kinh Tế

Kinh tế tư nhân đã đóng góp một phần không nhỏ vào tăng trưởng GDP của tỉnh. Theo báo cáo, tỷ lệ đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP đã tăng từ 15% lên 25% trong giai đoạn 1991-2005, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này.

V. Kết Luận Và Định Hướng Tương Lai Cho Kinh Tế Tư Nhân Tại Quảng Ninh

Kinh tế tư nhân tại Quảng Ninh đã có những bước phát triển đáng kể trong giai đoạn 1991-2005. Tuy nhiên, để phát triển bền vững trong tương lai, cần có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ chính quyền. Định hướng phát triển kinh tế tư nhân cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh và khuyến khích đổi mới sáng tạo.

5.1. Định Hướng Chính Sách Hỗ Trợ Doanh Nghiệp

Chính quyền cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân, bao gồm việc tạo điều kiện tiếp cận vốn, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ công nghệ.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Doanh Nghiệp

Khuyến khích sự hợp tác giữa các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước để tạo ra một hệ sinh thái kinh tế mạnh mẽ hơn. Sự hợp tác này sẽ giúp các doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo phát triển kinh tế tƣ nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2000 Chương 2: ảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tƣ nhân từ năm 2001 đến năm 2005 Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hƣơng 1 Ủ ƢƠN V SỰ Ỉ O P ÁT TR ỂN N TẾ TƢ N N Ủ ẢN B TỈN QUẢN N N TỪ N M 1991 ẾN N M 2000 1. ác yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tƣ nhân của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Quảng Ninh là một vùng đất đã có lịch sử từ lâu đời. Trải qua thời đại từ các Vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến, Quảng Ninh đã được gọi dưới nhiều tên khác nhau như Lục Hải, Hải Ninh, Ninh Hải, Châu Hoàng, Lục Châu, Hải ông.

Với bề dày lịch sử lâu đời như vậy, Quảng Ninh đã có nhiều di tích nổi tiếng như: Bãi cọc Bạch ằng, Thương cảng Vân ồn, Khu quần thể các lăng vua Trần ở ông Triều, núi Yên Tử… đi vào lịch sử và trường tồn cùng thời gian. Ngày 30/10/1963, tại kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa ) đã nhất trí thông qua Nghị quyết phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành Quảng Ninh. Tên gọi Quảng Ninh là ghép hai chữ cuối của Hồng Quảng và Hải Ninh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, “ uảng” có nghĩa là rộng lớn, “Ninh” có nghĩa là yên ổn, bền vững. Như vậy, tên gọi Quảng Ninh chính thức có hiệu lực từ năm 1963 với ý nghĩa là một vùng đất rộng lớn và bền vững.

Về vị trí địa lý, Quảng Ninh nằm ở phía ông Bắc, phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn và Trung uốc, phía Tây giáp Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng và Hải Dương, phía Nam và phía ông giáp biển. Vị trí này rất thuận lợi cho các hoạt động trao đổi, tiếp xúc kinh tế với các tỉnh lân cận và Trung Quốc – nơi có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ. Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển, có mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển và đang được mở rộng. ồng thời là cửa ngõ thông ra biển cho nhiều tỉnh ở phía Bắc, các hoạt động vận chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế với các tỉnh và thiết lập mối quan hệ không chỉ bằng đường bộ mà còn bằng đường biển với các nước trong khu vực, quốc tế được diễn ra sôi nổi, năng động.

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là 6.813 km2 đất liền, 6.000 km2 đường biển. Quảng Ninh là tỉnh miền núi – duyên hải, hơn 80% đất đai là đồi núi, hơn 2.000 hòn đảo nổi trải dài theo đường ven biển dài hơn 250 km [97, tr. Quảng Ninh có khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh và ít mưa. Nguồn đất đai và khí hậu thích hợp với phát triển kinh tế nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản), đặc biệt là phát triển mô hình trang trại, chăn nuôi gia súc, gia cầm với số lượng lớn.

Tính đến ngày 01/04/2009, dân số Quảng Ninh là 1.381 người, mật độ dân số trung bình là 187 người/km2. Tỷ lệ dân số sống ở thành thị là 50,3%, tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã lớn trong tỉnh Quảng Ninh [97, tr. Nguồn dân số đông, phân bố tương đối đồng đều giữa thành thị và nông thôn đã cung cấp nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn cho các hoạt động kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh là nơi cư trú 22 tộc người, với lịch sử hình thành lâu đời đã tạo nên những cộng đồng người có ngôn ngữ, bản sắc dân tộc rõ rệt như Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, oa… [97, tr.

Trong đó, người Kinh có số lượng đông đảo nhất chiếm tới 89,23%. Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các tộc người vẫn có sự chênh lệch lớn, tập trung phát triển chủ yếu ở cộng đồng người Kinh vùng đồng bằng, đô thị, ven biển, còn những tộc người khác cư trú ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn lạc hậu, nghèo nàn, kinh tế hết sức khó khăn. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về tài nguyên, Quảng Ninh nổi tiếng với những tài nguyên du lịch như: Vịnh Hạ Long, Bãy Cháy, Tuần hâu… Khu du lịch này không chỉ thu hút khách du lịch trong nước mà còn nổi tiếng với du khách nước ngoài. àng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến thăm.

Bên cạnh đó là những tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng với trữ lượng lớn như than đá, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… Tuy nhiên, giàu có và nổi tiếng bậc nhất là phải kể đến than đá, không một địa phương nào có được nguồn than đá dồi dào đến như vậy. ây cũng chính là thế mạnh của Quảng Ninh trong việc phát triển ngành CN khai khoáng nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Phân chia đơn vị hành chính, Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện: Thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí; Thị xã Quảng Yên, ông Triều; Huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, ô Tô, Vân ồn, Hoành Bồ, ầm Hà, Tiên Yên, Hải Hà. Với vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên, du lịch hết sức phong phú, đa dạng là một trong những nguồn lực để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng.

Khai thác và sử dụng có hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên này sẽ phụ thuộc vào các thành phần kinh tế, trong đó triệt để và toàn diện nhất phải nói đến kinh tế tư nhân. Sự góp mặt của thành phần này trên tất các các ngành nghề, lĩnh vực đã tận dụng, phát huy tối đa lợi thế của tỉnh Quảng Ninh, tạo điều kiện, cơ sở thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Vai trò lãnh đạo của ảng bộ trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế ngày càng được thể hiện rõ nét, nổi bật hơn. Cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh trở thành một trong ba cực phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), uảng Ninh bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh. Năm 1979, chiến tranh biên giới nổ ra, nhân dân Quảng Ninh lại phải tiếp tục 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đứng lên đấu tranh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc thêm một lần nữa. Khắc phục hậu quả và chăm lo đời sống nhân dân là mục tiêu hàng đầu của ảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong những ngày đầu thống nhất đất nước. Năm 1986, dưới sự lãnh đạo của ảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, ảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực.

Mặc dù con đường đổi mới còn nhiều thách thức nhưng với tinh thần và sự quyết tâm thì ảng bộ và nhân dân Quảng Ninh đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, phấn đấu xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam Có một thời gian dài trong lịch sử, kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển và là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa. Việt Nam chỉ tồn tại 2 thành phần kinh tế chính: Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, kinh tế gia đình và tiểu chủ phụ thuộc vào kinh tế nhà nước và tập thể. Kinh tế tư bản tư nhân chuyển thành kinh tế tập thể hoặc kinh tế nhà nước hay công ty hợp doanh.

Trước năm 1986, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương ảng khóa IV (tháng 8/1979) được coi là bước tiến đầu tiên trong thay đổi chủ trương, chính sách trên lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển lực lượng sản xuất, đánh dấu sự nghiệp đổi mới bắt đầu. Hội nghị đã thừa nhận sự tồn tại của một nền kinh tế thị trường. ến ại hội V (1982) chuyển từ chế độ quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần kinh tế.

Như thế, từ việc coi kinh tế tư nhân là thành phần cần cải tạo và xóa bỏ, ảng đã có sự thay đổi nhận thức 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng việc thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế quốc gia. Năm 1986, ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ảng với chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, thừa nhận sự tồn tại khách quan nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là giai đoạn đầu trong thời kỳ quá độ. ại hội đã chính thức xác lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu như ại hội VI nền kinh tế tư nhân mới chỉ được thừa nhận là một bộ phận tồn tại khách quan và cần thiết trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần thì đến ại hội VII kinh tế tư nhân đã thực sự được phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã thể hiện rất rõ quan điểm của ảng trong việc nhìn nhận lại về kinh tế tư nhân “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.

Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy định” [25, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ