CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Khái niệm kinh tế tư nhân Khái niệm "kinh tế tư nhân" ở Việt Nam được chính thức sử dụng từ Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Khóa VI (tháng 3-1989). Nghị quyết đã xác định tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân: "trong điều kiện của nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội".
Về mặt quy định pháp lý, việc ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (năm 1990) đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân với các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân. Đại hội lần thứ VII của Đảng (6-1991) quy định "Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước, trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức". Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6-1996) quyết định "kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng. Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài".
Đại hội lần thứ IX của Đảng (4-2001) khẳng định "Kinh tế thị trường Luan van 7 định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc". Đại hội quyết định "Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động".
Văn kiện Đại hội lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định khu vực kinh tế tư nhân bao gồm tất cả các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh của người Việt Nam không thuộc sở hữu Nhà nước (hoặc Nhà nước có góp vốn nhưng không giữ vai trò chi phối), không do nước ngoài đầu tư (hoặc nước ngoài có góp vốn nhưng không giữ vai trò chi phối), không thuộc thành phần kinh tế tập thể (các HTX). Hay nói các khác kinh tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Kinh tế cá thể được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động là của chính hộ cá nhân đó, không thể thuê mướn lao động làm thuê. Kinh tế tiểu chủ được hiểu là hình thức kinh tế của chủ tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê; qui mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần.
Kinh tế tư bản tư nhân, về hình thức tổ chức sản xuất, hình thức doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần được thành lập theo luật doanh nghiệp. Luan van 8 Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế tư nhân. Một số người coi khu vực kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc hiểu khu vực kinh tế tư nhân như vậy tạo cơ sở để đánh giá hết tiềm năng của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam, nhưng mặt khác lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch phần vốn góp của Nhà nước trong các công ty cổ phần cũng như trong các doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Còn có quan điểm cho rằng khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cách nhìn nhận này dựa trên phân chia nền kinh tế thành ba khu vực kinh tế: khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy theo quan điểm này kinh tế tập thể cũng thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Hiện nay, quan niệm được nhiều người đồng tình nhất, đó là nói đến kinh tế tư nhân thực chất là nói đến bộ phận kinh tế tư nhân, trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lao động, sản phẩm làm ra, kết quả quá trình sản xuất đó thuộc về tư nhân.
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Như vậy, có thể hiểu kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vốn và kết quả sản xuất kinh doanh được tạo ra cũng thuộc về người sở hữu tư liệu sản xuất và vốn ấy. Vì thế luận văn tập trung nghiên cứu khu vực kinh tế tư nhân dưới các hình thức biểu hiện của nó là: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, hộ các thể. Các thành phần của kinh tế tư nhân a.
Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động. Kinh tế cá thể tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vai trò rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh tiềm năng về vốn sức lao động và tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng sản xuất kinh doanh của kinh tế cá thể, tiểu chủ cần được khuyến khích.
Hiện nay, ở nước ta thành phần kinh tế này đang tồn tại dước hình thức hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng, lâu dài.Đối với nước ta cần phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế này để góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, đó là vấn đề bức bách hiện nay trong nền kinh tế xã hội. Trong những năm gần đây, thành phần kinh tế này phát triển nhanh chóng trong nông, lâm, ngư nghiệp và thương mại, dịch vụ. Nó đã góp phần quan trọng vào các thành tựu kinh tế, xã hội. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng kinh tế cá thể, tiểu chủ dù phát triển đến bao nhiêu cũng không loại bỏ được những hạn chế vốn có như: tính tự phát, manh mún, hạn chế về kỹ thuật.Do đó Đảng ta chỉ rõ: cần giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các vấn đề khó khăn về vốn, khoa học, kỹ thuật công nghệ, thị trường tiêu thụ sản phẩm.Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ IX viết: “Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lơn hơn”.
Phát triển các loại Luan van 10 hình thông tin với quy mô phù hợp từng địa bàn. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê. Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, đáp ứng được nhu cầu của dân cư. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của họ; xóa bỏ định kiến và tạo điều kiện về tín dụng, khoa học công nghệ, đào tạo cán bộ cho thành phần kinh tế này.
Tuy nhiên đây là thành phần kinh tế có tính tự phát rất cao. Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ IX viết: “ khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phiếu cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế Nhà nước, xây dựng quan hệ tốt với chủ doanh nghiệp và người lao động. Các loại hình tổ chức kinh doanh cơ bản Sự ra đời của một loại hình doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân nói riêng phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất, công nghệ, ngành nghề… và thường xuyên biến đổi.
Trong giai đoạn hiện nay thì các loại hình trong khu vực kinh tế tư nhân phổ biến là: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh (goi chung là doanh nghiệp). Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 [9], doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng Luan van 11 ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh.