Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ thị xã cẩm phả tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2012 001

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ussh đảng bộ thị xã cẩm phả tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2012 001, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

2014

153
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kinh Tế Thị Xã Cẩm Phả Từ 1996 Đến 2000

Thị xã Cẩm Phả, một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của tỉnh Quảng Ninh, đã trải qua nhiều biến động trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000. Sự phát triển kinh tế của Cẩm Phả không chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên phong phú mà còn nhờ vào các chính sách phát triển kinh tế của Đảng bộ. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của thị xã, với nhiều chủ trương và biện pháp được thực hiện nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

1.1. Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Phát Triển Kinh Tế Cẩm Phả

Cẩm Phả có vị trí địa lý thuận lợi, với nguồn tài nguyên phong phú như than, đá vôi và nước khoáng. Những yếu tố này đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khai thác và chế biến. Bên cạnh đó, sự phát triển hạ tầng giao thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối thị xã với các khu vực lân cận.

1.2. Tình Hình Kinh Tế Thị Xã Trước Năm 1996

Trước năm 1996, kinh tế Cẩm Phả chủ yếu dựa vào ngành khai thác than. Tuy nhiên, sự phát triển còn gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và chính sách phát triển chưa đồng bộ. Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư và phát triển bền vững của thị xã.

II. Chủ Trương Phát Triển Kinh Tế Của Đảng Bộ Từ 1996 Đến 2000

Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trong giai đoạn này tập trung vào việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững. Các chính sách được đưa ra nhằm khuyến khích đầu tư, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

2.1. Các Chính Sách Phát Triển Kinh Tế

Đảng bộ đã ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như khai thác than, sản xuất xi măng và chế biến gỗ. Những chính sách này đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

2.2. Sự Chỉ Đạo Thực Hiện Các Chính Sách

Sự chỉ đạo thực hiện các chính sách phát triển kinh tế được thực hiện thông qua việc thành lập các ban chỉ đạo và tổ chức các hội nghị để đánh giá tình hình. Điều này giúp đảm bảo rằng các chính sách được triển khai một cách đồng bộ và hiệu quả.

III. Kết Quả Phát Triển Kinh Tế Từ 1996 Đến 2000

Giai đoạn từ 1996 đến 2000, kinh tế thị xã Cẩm Phả đã có những bước phát triển đáng kể. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, với sự gia tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ.

3.1. Tăng Trưởng Kinh Tế Và Cơ Cấu Kinh Tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Cẩm Phả trong giai đoạn này đạt khoảng 10-12% mỗi năm. Ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là ngành khai thác và chế biến than.

3.2. Những Thành Tựu Đạt Được

Nhiều dự án đầu tư lớn đã được triển khai, tạo ra hàng ngàn việc làm cho người dân. Cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

IV. Thách Thức Trong Phát Triển Kinh Tế Cẩm Phả Từ 1996 Đến 2000

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, nhưng thị xã Cẩm Phả cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế. Những vấn đề như ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và sự cạnh tranh từ các địa phương khác đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững.

4.1. Ô Nhiễm Môi Trường

Ngành công nghiệp khai thác than đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân và chất lượng cuộc sống. Cần có các biện pháp khắc phục và bảo vệ môi trường.

4.2. Thiếu Hụt Nguồn Nhân Lực Chất Lượng

Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, thị xã Cẩm Phả vẫn gặp khó khăn trong việc đào tạo và thu hút nhân tài.

V. Kết Luận Về Phát Triển Kinh Tế Thị Xã Cẩm Phả Từ 1996 Đến 2012

Từ năm 1996 đến năm 2012, thị xã Cẩm Phả đã có những bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế. Những thành tựu đạt được không chỉ góp phần nâng cao đời sống người dân mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai.

5.1. Đánh Giá Tổng Quan Về Sự Phát Triển

Sự phát triển kinh tế của Cẩm Phả trong giai đoạn này đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần tiếp tục cải thiện các chính sách để đảm bảo sự phát triển bền vững.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Của Kinh Tế Cẩm Phả

Để phát triển bền vững, Cẩm Phả cần tập trung vào việc bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển các ngành kinh tế mới, đặc biệt là du lịch và dịch vụ.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ thị xã cẩm phả tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2012 001

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế ở thị xã Cẩm Phả và tình hình kinh tế của thị xã trƣớc năm 1996 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế ở thị xã Cẩm Phả Thị xã Cẩm Phả nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, được biết đến trong lịch sử với nhiều chiến công oanh liệt chống phong kiến phương Bắc. Đến giữa thế kỷ thứ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngày 12 – 3 – 1883 chúng đánh chiếm Hòn Gai, Cẩm Phả và bắt đầu công cuộc khai thác than tại khu mỏ Cẩm Phả.

Cùng với Hòn Gai, Cẩm Phả là nơi tập trung sớm nhất, đông đảo nhất những thanh niên nông dân ra làm phu mỏ; đây là cái nôi ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam với những phong trào đấu tranh sôi nổi mà đỉnh cao là cuộc tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ, khởi đầu tại Cẩm Phả vào ngày 12 – 11 – 1936 với truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm”. Cẩm Phả là đơn vị hành chính đông dân thứ hai của tỉnh Quảng Ninh (195. Là một trong ba trung tâm công nghiệp chính, tổng diện tích tự nhiên 48.645,0 ha, lớn thứ 2 của tỉnh. Nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển năng động của các vùng, miền đó là liền kề khu kinh tế Vân Đồn, với các thành phố Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí.

Quá trình phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội – quốc phòng an ninh của thị xã luôn gắn bó hữu cơ với sự phát triển của các vùng miền và sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác mỏ. Cẩm Phả có nguồn tài nguyên phong phú (trữ lươ ̣ng than lớn nhấ t cả nước, có đá vôi, đấ t sét .) để phát triển công nghiệp khai thác , chế biế n than; sản xuất xi măng, nhiê ̣t điê ̣n; sản xuất vật liệu xây dựng; phát triển trồng rừng gắ n với công nghiê ̣p chế biế n gỗ. Với đường bờ biể n dài 73km rấ t thuâ ̣n lơ ̣i 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho phát triể n cảng biể n ; có 02 cảng biển Quốc gia (Cửa Ông , Hòn Nét) và mô ̣t số cu ̣m cảng nội địa ; Vịnh Bái Tử Long xinh đẹp liền kề với Vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên Thế giới ; có nguồn nước khoáng nóng quý hiếm (Quang Hanh, Cẩm Thạch); Khu di tích lich ̣ sử – văn hoá Đề n Cửa Ông cấp Quốc gia, Khu Vũng Đu ̣c để phát triể n du lich, ̣ biể n đảo ; du lich ̣ tâm linh ; du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh bằng khoáng nóng ; dịch vụ phục vụ cho phát triể n công nghiê ̣p và nuôi trồ ng chế biế n thủy sản. Về địa giới hành chính: Cẩm Phả (toạ độ 20o58'10 – 21o12' vĩ độ bắc, 107o10' – 107o23'50 kinh độ đông) cách thành phố Hạ Long 30km, phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ , phía Đông giáp huyện Vân Đồn, phía Tây giáp huyện Hoành Bồ – vùng vịnh thuộc thị xã là vịnh Bái Tử Long.

Cẩm Phả có diện tić h tự nhiên 48. Địa hiǹ h núi non , diện tić h núi chiếm 55,4% diện tích (trong đó núi đá chiếm tới 2590 ha, núi cao nhất ở Quang Hanh ), vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,1% và vùng ven biển chiếm 13,3%, có Quốc lộ 18A đoạn chạy qua thành phố dài gần 70km, với chiều dài bờ biển dài 73km. Lợi thế này giúp cho địa phương có thể phát triển thành một thành phố Công nghiệp – Cảng biển – Dịch vụ văn minh hiện đại. Tài nguyên lớn nhất ở Cẩm Phả là than đá.

Tổng tiềm năng ước tiń h trên 3 tỷ tấn, trữ lượng có thể khai thác 2,5 tỷ tấn (trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than Quảng Ninh ). Ngoài than, antimon ở Khe Sim – Dương Huy, đá vôi ở Quang Hanh, nước khoáng đều là những tài nguyên quý hiếm. Ngoài các mỏ than lớn như Cọc Sáu , Đèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Thống Nhất còn có những nhà máy cơ khí lớn, nhà máy sàng tuyển than và bến cảng, công ty địa chất và các xí nghiệp xây lắp , vận tải. Tất cả tạo nên một hệ thống sản xuất liên hoàn , một vùng công nghiệp sôi động , hàng năm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu 7 – 8 triệu tấn than.

Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp thuộc kinh tế địa phương chiếm tỷ trọng nhỏ so với than nhưng lại là những hậu cần tại chỗ rất quan trọng. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phía Đông tiếp giáp với Huyện Vân Đồn, là huyện có tiềm năng về biển đảo, huyện đang được tỉnh chỉ đạo xây dựng phát triển trở thành trung tâm sinh thái Biển – Đảo chất lượng cao; Phía Tây giáp với huyện Hoành Bồ, thành phố Hạ Long – nơi có vịnh Hạ Long được hai lần tổ chức UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới và đến ngày 12/11/2011 được tổ chức New Open World chọn vào danh sách 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới; phía Nam tiếp giáp với biển đảo của Huyện Vân Đồn, có vịnh Bái Tử Long, nơi có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ cùng hệ sinh thái đa dạng và phong phú, đặc trưng, hệ thống các hang động (hang Dơi, hang Quan,…), những dãy đảo đất (hòn Một, hòn Hai, hòn Rều…) trong không gian biển đảo vịnh Hạ Long – vịnh Bái Tử Long – vườn quốc gia Ba Mùn và các quần thể các hòn đảo của huyện Vân Đồn; Phía Bắc tiếp giáp với các huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, nằm trên trục đường Quốc lộ 18 nối liền với khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Móng Cái đang phát triển và đầy tiềm năng. Thị xã Cẩm Phả ngày nay là một đơn vị hành chính gộp chung của thị xã Cẩm Phả mỏ và thị xã Cẩm Phả bến trước kia (còn gọi là Cửa Ông) cùng các phố than Mông Dương, Cọc Sáu. Vì lí do đó các đơn vị hành chính nằm dọc và kéo dài theo một dải với độ dài 70km với các khu dân cư được ghép nối thành một dải tạo nên một hình dáng đô thị đặc biệt.

Tính từ tây sang đông, 13 phường của thị xã nằm dọc trên quốc lộ 18A là: Quang Hanh, Cẩm Thạch, Cẩm Thuỷ, Cẩm Trung, Cẩm Thành, Cẩm Tây, Cẩm Bình, Cẩm Ðông, Cẩm Sơn, Cẩm Phú, Cẩm Thịnh, Cửa Ông, Mông Dương và 3 xã Dương Huy, Cộng Hoà, Cẩm Hải. Cẩm Phả có trên 182.000 người (2012) với mật độ dân cư: 517 người/km². Hầu hết là người Kinh (95,2%), còn lại đáng kể là người Sán Dìu (3,9%). Người Sán Dìu là những cư dân định cư đầu tiên ở Cẩm Phả, vào thế kỉ XIX khi Pháp tiến hành khai thác than ở đây, một lượng lớn thanh niên từ khắp nơi ở vùng đồng bằng Bắc Bộ được đưa đến sinh sống và làm việc trong những mỏ của người Pháp, họ cũng chính là giai cấp công nhân đầu tiên ở 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam.

Vì thế hiện tại người Cẩm Phả phần lớn là công nhân ngành than, có gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cẩm Phả chính thức được Chính phủ công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh từ ngày 21/02/2012 và thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TƯ, ngày 30/8/2011 của BTV thị ủy về một số chủ trương, giải pháp lớn xây dựng Cẩm Phả trở thành thành phố vào năm 2012 và phát triển những năm tiếp theo, phấn đấu để trở thành thành phố theo định hướng thành phố công nghiệp, cảng biển văn minh và hiện đại. Địa hình: Khu đất có địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ từ 2,5 m đến 4,3 m, có hướng dốc về phía Nam ra biển với độ dốc 0,2 – 0,4%. Hải văn: Khu vực ven biển thị xã Cẩm Phả thuộc chế độ nhật triều thuần nhất, hàng tháng có trên dưới 25 ngày nước lên và xuống với biên độ trung bình là 2,19 mét, cao nhất là 4,1 mét vào các tháng 6,11,12 và thấp nhất là 0,7 mét.

Thuỷ văn: Trên địa bàn Cẩm Phả có 3 con sông chính chảy qua, trong đó lớn nhất là sông Diễn Vọng. Ngoài ra trong khu vực Cẩm Phả còn có một số ao, hồ và nhiều con suối nhỏ khác có tác dụng tiêu thoát nước cho thị xã. Khu vực nghiên cứu thiết kế chịu tác động của 03 con suối chính đó là suối Cầu 1, Cầu 2 và Cầu 3. Các con suối này đền bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc chảy qua đường 18 thông qua Cầu 1, 2 và 3 sau đó qua khu vực thiết kế và đổ ra biển.

Về mùa mưa các con suối đều có lưu lượng lớn mang theo đất đá bùn và than gây ô nhiễm khu vực ven biển. Khí hậu: Khí hậu của Cẩm Phả thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên khá ôn hòa. Hàng năm có 2 mùa rõ rệt. Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10 với đặc trưng là nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

Tài nguyên thiên nhiên: - Công nghiệp: Tài nguyên lớn nhất ở Cẩm Phả là than đá. Tổng tiềm năng ước tính trên 3 tỷ tấn trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than Quảng Ninh. Chất lượng than tốt, tiện đường chuyên chở ra cảng nước sâu. Chính vì 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy mà kinh tế chủ yếu ở thị xã Cẩm Phả là sản xuất than.

Ðây là trung tâm sản xuất than của Quảng Ninh và của cả nước. Cẩm Phả có hệ thống đường sắt dùng chuyên chở than chạy dọc thành phố chở than đến nhà máy Tuyển than Cửa Ông. Các mỏ than lớn như Cọc Sáu, Ðèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy, Thống Nhất. Ngoài than, antimon ở Khe Sim – Dương Huy, đá vôi ở Quang Hanh, nước khoáng đều là những tài nguyên quý hiếm.

Cẩm Phả có vùng núi đá vôi rộng lớn, là nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc phát triển các ngành sản xuất xi măng, nhiệt điện và vật liệu xây dựng. Có những nhà máy cơ khí lớn, nhà máy sàng tuyển than và bến cảng, công ty địa chất và các xí nghiệp xây lắp, nhà máy chế tạo thiết bị điện, cơ khí trung tâm và nhà máy chế tạo máy than Việt Nam là các trung tâm cơ khí sản xuất, sửa chữa thiết bị phục vụ cho ngành than và công nghiệp chung cho cả nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ