Tổng quan nghiên cứu

Thị xã Cẩm Phả nằm ở vị trí chiến lược thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, sở hữu trữ lượng than đá ước tính trên 3 tỷ tấn (chiếm khoảng 35% tổng trữ lượng than toàn tỉnh Quảng Ninh) cùng hệ thống 2 cảng biển nước sâu quốc gia Cửa Ông và Hòn Nét. Trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, địa phương phải đối mặt với những thách thức to lớn về tái cơ cấu sản xuất công nghiệp, quản lý tài nguyên khoáng sản, quy hoạch không gian đô thị và giải quyết việc làm cho hơn 182.000 dân cư. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của công trình là làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đối với sự nghiệp phát triển kinh tế địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa các chủ trương, chỉ thị của Đảng bộ thị xã qua các nhiệm kỳ; phân tích quá trình tổ chức triển khai thực tế trên từng ngành kinh tế mũi nhọn; từ đó đánh giá khách quan các thành tựu, hạn chế và đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn. Phạm vi nghiên cứu trải rộng trên toàn bộ địa bàn thị xã Cẩm Phả với 13 phường và 3 xã trong khung thời gian từ năm 1996 (thời điểm khởi đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa toàn diện) đến năm 2012 (thời điểm Cẩm Phả chính thức được nâng cấp thành thành phố theo Nghị quyết số 04/NQ-CP của Chính phủ).

Ý nghĩa của công trình được thể hiện qua việc làm sáng tỏ cơ chế lãnh đạo phát triển kinh tế vùng công nghiệp khai khoáng đặc thù. Quá trình chỉ đạo đúng đắn đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương liên tục đạt trên 10% mỗi năm, huy động hơn 48,1 tỷ đồng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong giai đoạn 1996 - 2000, đưa tổng thu ngân sách từ 28,75 tỷ đồng năm 1996 tăng trưởng vượt bậc qua từng giai đoạn, tạo nền tảng vững chắc để chuyển đổi mô hình đô thị hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng Cộng sản đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn vận dụng sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác lập tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996), Đại hội IX (năm 2001) và Đại hội X (năm 2006), đặc biệt là quan điểm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Mô hình nghiên cứu áp dụng khung phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và lãnh thổ theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ cấu chuẩn: Công nghiệp - Xây dựng, Thương mại - Dịch vụ và Nông - Lâm - Thủy sản. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt bao gồm: năng lực lãnh đạo kinh tế của tổ chức Đảng cơ sở, kinh tế nhiều thành phần, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mũi nhọn, và quy hoạch phát triển đô thị công nghiệp cảng biển.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn kiện Đại hội Đảng bộ toàn quốc, văn kiện Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (khóa X, XI, XII), cùng toàn bộ nghị quyết, chỉ thị, đề án và hơn 50 báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội thường niên của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ khóa XVII đến khóa XX. Cơ sở dữ liệu định lượng được đối chiếu trực tiếp từ các bộ Niên giám thống kê giai đoạn 1996 - 2012 do Chi cục Thống kê Cẩm Phả phát hành.

Về cỡ mẫu và phạm vi khảo sát, luận văn nghiên cứu toàn bộ 16 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 13 phường đô thị và 3 xã nông nghiệp Dương Huy, Cộng Hòa, Cẩm Hải), hơn 55 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và trên 3.320 hộ kinh doanh thương mại cá thể. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng để khảo sát chuyên sâu tại các doanh nghiệp than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), các mô hình kinh tế vườn rừng tại xã Dương Huy, và hệ thống logistics cảng Cửa Ông, Hòn Nét. Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic nhằm tái hiện chân thực tiến trình lịch sử và phân tích bản chất các quyết sách kinh tế; kết hợp phương pháp thống kê, so sánh đa chiều nhằm đối chiếu tốc độ tăng trưởng kinh tế qua từng mốc thời gian 1996, 2000, 2005 và 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Đảng bộ thị xã đã lãnh đạo chuyển đổi cơ cấu công nghiệp thành công sau khi thực hiện Quyết định 381/CP của Chính phủ về việc lập lại trật tự trong khai thác, tiêu thụ than. Dù các doanh nghiệp địa phương không còn trực tiếp khai thác than mỏ, cấp ủy đã định hướng kịp thời sang dịch vụ vận tải, sàng tuyển, tiêu thụ than bãi thải và than trôi. Tính đến năm 2000, toàn thị xã duy trì 55 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp với tổng giá trị sản lượng đạt hơn 82,3 tỷ đồng (bằng 262,5% so với năm 1999), thu hút trên 2.700 lao động và nộp ngân sách nhà nước hơn 3 tỷ đồng.

Thứ hai, khu vực nông - lâm - thủy sản ghi nhận bước chuyển dịch mạnh sang sản xuất hàng hóa tập trung. Thị xã đã thực hiện giao 2.860 ha đất lâm nghiệp cho 327 hộ gia đình triển khai Dự án 327 trồng rừng và kinh tế trang trại vườn rừng, mang lại thu nhập bình quân từ 30 đến 100 triệu đồng mỗi hộ/năm. Tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản năm 2000 đạt 77,53 tỷ đồng (tăng 107,6% so với năm 1996), trong đó sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản năm 1998 đạt 400 tấn, tăng gấp gần 3 lần so với mức 140 tấn của năm 1997.

Thứ ba, công tác điều hành tài chính - ngân hàng và huy động nguồn lực xã hội hóa cho xây dựng cơ bản đạt hiệu quả đột phá. Năm 1999, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 39,1 tỷ đồng (đạt 139,4% kế hoạch giao, tăng 32,9% so với mức 28,25 tỷ đồng năm 1996). Trong giai đoạn 1996 - 2000, thị xã huy động hơn 48,1 tỷ đồng cho xây dựng cơ bản, triển khai phương châm Nhà nước cấp xi măng, nhân dân đóng góp kinh phí để hoàn thành trên 60 tuyến đường dân cư với tổng chiều dài hơn 15 km, huy động gần 4 tỷ đồng từ nhân dân và các xí nghiệp đóng trên địa bàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến các thành tựu trên xuất phát từ năng lực nắm bắt thời cơ, vận dụng linh hoạt chủ trương của Trung ương vào điều kiện thực tế địa phương của cấp ủy Cẩm Phả. Thị ủy đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa công nghiệp khai khoáng do Trung ương quản lý với nền kinh tế địa phương đa thành phần, đồng thời phát huy sức mạnh của mạng lưới 17 chợ dân sinh với 3.320 hộ kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 10.000 người và đóng góp 29% tổng thu ngân sách.

Khi phân tích diễn biến số liệu, việc trực quan hóa các chỉ tiêu qua biểu đồ cột chồng thể hiện tỷ trọng chuyển dịch giữa công nghiệp - thương mại - nông nghiệp và bảng thống kê thu chi ngân sách theo chu kỳ 5 năm sẽ làm nổi bật tốc độ tăng trưởng bứt phá của địa phương so với các đô thị lân cận như Uông Bí hay Móng Cái. Mặc dù còn những hạn chế như thất thu thuế chuyển quyền sử dụng đất và tình trạng cháy rừng (thiệt hại 192 ha rừng năm 1999), những quyết sách kịp thời của Đảng bộ đã đặt tiền đề vững chắc cho việc thành lập thành phố Cẩm Phả vào năm 2012.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp chuỗi giá trị công nghiệp nặng và phát triển công nghiệp phụ trợ công nghệ cao. Thành ủy Cẩm Phả cần phối hợp chặt chẽ với Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) ứng dụng công nghệ cơ giới hóa khai thác hầm lò, hiện đại hóa cụm Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả (công suất 600 MW) và Nhà máy Xi măng Cẩm Phả. Mục tiêu đến năm 2020 giảm thiểu 25% lượng phát thải rắn, nâng tổng công suất các nguồn nhiệt điện trên địa bàn lên 3.350 MW, do Ủy ban nhân dân thành phố và Sở Công thương chủ trì thực hiện.

Thứ hai, mở rộng và hiện đại hóa hạ tầng logistics cảng biển nước sâu. Đơn vị quản lý đô thị cần đẩy nhanh tiến độ nạo vét luồng hàng hải, nâng công suất tiếp nhận của cảng Cửa Ông và cảng Hòn Nét để phục vụ tàu trọng tải 70.000 đến 100.000 tấn. Hoàn thiện nâng cấp tuyến Quốc lộ 18A dài gần 70 km chạy dọc đô thị và các tuyến tỉnh lộ 326, 329 giai đoạn 2014 - 2018 dưới sự chỉ đạo của Sở Giao thông Vận tải Quảng Ninh.

Thứ ba, quy hoạch phát triển du lịch sinh thái biển đảo và du lịch tâm linh chất lượng cao. Khai thác hiệu quả lợi thế tiếp giáp 73 km bờ biển vịnh Bái Tử Long, suối nước khoáng nóng Quang Hanh và Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Cửa Ông. Đặt mục tiêu giai đoạn 2015 - 2022 thu hút trên 500.000 lượt du khách mỗi năm, nâng tỷ trọng dịch vụ - du lịch đạt 40% cơ cấu GRDP do Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố điều phối.

Thứ tư, chuẩn hóa công tác quản lý đô thị và bảo vệ môi trường sinh thái vịnh Bái Tử Long. Hoàn thành 100% quy hoạch chi tiết các phân khu đô thị mới, xử lý triệt để bùn than và rác thải tại lưu vực 3 con suối chính (suối Cầu 1, Cầu 2, Cầu 3) trong giai đoạn 2013 - 2017, giao Phòng Quản lý Đô thị và Tài nguyên Môi trường giám sát thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Cẩm Phả và tỉnh Quảng Ninh. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn và bài học kinh nghiệm về phương thức lãnh đạo kinh tế, điều hành ngân sách và quản lý trật tự khai thác tài nguyên mỏ.

Nhóm 2: Các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, kinh tế học địa phương và lịch sử vùng mỏ Việt Nam. Luận văn là nguồn tài liệu chuyên khảo quý giá giúp phục dựng bức tranh chuyển đổi kinh tế địa phương thời kỳ 1996 - 2012 với các dữ liệu thực chứng chuẩn xác.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Quản lý công, Kinh tế phát triển. Đề tài cung cấp phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa lịch sử - logic và kỹ thuật xử lý hồ sơ lưu trữ địa phương.

Nhóm 4: Ban điều hành các tổng công ty, doanh nghiệp ngành than, logistics và vật liệu xây dựng. Tài liệu giúp làm rõ cơ chế phối hợp giữa các doanh nghiệp nhà nước với chính quyền địa phương trong việc giải quyết an sinh xã hội cho hơn 10.000 thợ mỏ và người lao động.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao Cẩm Phả phải chuyển đổi mô hình doanh nghiệp khai thác than sau năm 1994? Sau khi Chính phủ ban hành Quyết định 381/CP nhằm lập lại trật tự khai thác và tiêu thụ than, các doanh nghiệp do thị xã quản lý không được phép khai thác mỏ trực tiếp. Đảng bộ thị xã đã chủ động chỉ đạo các cơ sở chuyển sang cung ứng dịch vụ vận tải, sàng tuyển và tận thu bãi thải, giúp bảo đảm nguồn nộp ngân sách địa phương đạt 78,02% kế hoạch ngay năm 1996.

  2. Cơ cấu kinh tế tổng quát của thị xã Cẩm Phả giai đoạn 1996 - 2000 được định hình như thế nào? Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVIII xác định cơ cấu kinh tế trọng tâm là: Công nghiệp - Lâm, ngư nghiệp - Thương mại, dịch vụ và du lịch. Mục tiêu chủ yếu là duy trì tốc độ tăng trưởng toàn địa bàn đạt trên 10%/năm, trong đó công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại phấn đấu tăng trưởng 10% đến 12%/năm.

  3. Kết quả nổi bật của mô hình kinh tế trang trại và vườn rừng tại Cẩm Phả là gì? Thông qua việc triển khai Dự án 327, thị xã đã giao 2.860 ha đất rừng cho 327 hộ dân. Mô hình vườn rừng tại các đồi Quang Hanh, Mông Dương, Dương Huy cho sản lượng quả đạt trên 200 tấn/năm, nhiều trang trại đạt doanh thu 30 đến 100 triệu đồng/năm, tạo việc làm ổn định cho hơn 500 lao động nông thôn.

  4. Giải pháp nào tạo nên đột phá trong xây dựng cơ sở hạ tầng dân sinh của thị xã? Thị xã triển khai sáng tạo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm thông qua cơ chế thị xã hỗ trợ 2.500 tấn xi măng, các xã phường vận động nhân dân đóng góp gần 4 tỷ đồng. Mô hình này đã bê tông hóa thành công hơn 60 tuyến đường dân cư dài trên 15 km và hỗ trợ 16/16 phường xã hoàn thành trụ sở làm việc vào năm 1997.

  5. Nghị quyết nâng cấp Cẩm Phả lên thành phố năm 2012 có ý nghĩa lịch sử gì? Nghị quyết số 04/NQ-CP ngày 21/02/2012 của Chính phủ là dấu mốc khẳng định thành tựu 16 năm lãnh đạo đổi mới của Đảng bộ. Quyết định này nâng tầm Cẩm Phả thành đô thị loại II, trung tâm công nghiệp cảng biển hiện đại với quy mô dân số hơn 182.000 người và hệ thống 2 cảng biển quốc gia tiếp nhận tàu 10 vạn tấn.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trong 16 năm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996 - 2012).
  • Hoàn thành thắng lợi mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2000 lên mức 82,3 tỷ đồng.
  • Phát huy hiệu quả nguồn lực xã hội hóa cho phát triển hạ tầng, huy động trên 48,1 tỷ đồng đầu tư xây dựng cơ bản trong 5 năm đầu đổi mới.
  • Giải quyết việc làm ổn định cho hơn 10.000 lao động tại 17 khu chợ thương mại và hàng vạn thợ mỏ tại các mỏ than quốc doanh.
  • Tạo nền tảng toàn diện về hạ tầng, kinh tế và trật tự đô thị để thị xã nâng cấp thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh theo Nghị quyết số 04/NQ-CP năm 2012.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là hệ thống hóa toàn diện, chân thực lịch sử chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ cấp huyện vùng công nghiệp than mỏ đặc thù. Kế hoạch nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung phân tích tiến trình chuyển dịch mô hình kinh tế từ nâu sang xanh của thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2012 - 2025. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại Trung tâm Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội để tiếp cận trọn bộ hệ thống tư liệu lịch sử giá trị.