Tổng quan luận án

Kinh tế nông thôn là bộ phận cấu thành có vị trí chiến lược trong nền kinh tế quốc dân và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã ghi nhận những thành tựu quan trọng về sản lượng, chuyển dịch cơ cấu và xây dựng kết cấu hạ tầng. Đối với thành phố Hà Nội, kinh tế nông thôn duy trì mức tăng trưởng nhất định, trong đó ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 2,4%/năm trong giai đoạn 2010 - 2015. Tuy nhiên, sau sự kiện hợp nhất địa giới hành chính tỉnh Hà Tây vào Thủ đô Hà Nội ngày 01/8/2008 theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội, các huyện phía Tây thành phố Hà Nội (vùng đất mang đậm trầm tích văn hóa Xứ Đoài của tỉnh Hà Tây và tỉnh Sơn Tây trước đây) bộc lộ nhiều mâu thuẫn nội tại trong quá trình phát triển.

Khu vực này chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên việc khai thác tiềm năng sẵn có; sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vẫn mang tính phân tán, manh mún, quy mô nhỏ và sức cạnh tranh thấp; trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế; kết cấu hạ tầng chưa theo kịp tốc độ phát triển; đất nông nghiệp và mặt nước chuyên dùng bị thu hẹp nhanh chóng do quá trình đô thị hóa; môi trường sinh thái làng nghề và các lưu vực sông chịu áp lực ô nhiễm nặng nề. Mặt khác, theo Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, phần lớn diện tích các huyện phía Tây thuộc hành lang xanh và vành đai sinh thái của thành phố. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn sinh thái và ổn định xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kinh tế nông thôn phát triển bền vững dưới góc độ kinh tế chính trị; phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông thôn tại các huyện phía Tây thành phố Hà Nội trong giai đoạn đổi mới từ năm 2005 đến năm 2015 (trọng tâm là giai đoạn từ sau ngày 01/8/2008); từ đó xác lập các phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm kinh tế nông thôn khu vực này phát triển bền vững đến năm 2025 và những năm tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về kinh tế nông thôn phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay (hội nhập quốc tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa).
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn trong nước và quốc tế về kinh tế nông thôn phát triển bền vững.
  3. Phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn phát triển bền vững ở các huyện phía Tây của thành phố Hà Nội trong thời gian qua (2005 - 2015), đặc biệt từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập với thành phố Hà Nội (ngày 01/8/2008).
  4. Đề xuất phương hướng và giải pháp bảo đảm kinh tế nông thôn phát triển bền vững ở các huyện phía Tây của thành phố Hà Nội đến năm 2025 và những năm tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống hợp những ngành kinh tế trong khu vực nông thôn (được xem xét đồng bộ cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế chính sách và bộ máy quản lý) trên địa bàn các huyện phía Tây của thành phố Hà Nội.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Đề tài khảo sát tổng thể các huyện phía Tây của thành phố Hà Nội gồm 7 đơn vị hành chính: Hoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Ba Vì và Thị xã Sơn Tây (đây là các huyện, thị xã trước đây thuộc tỉnh Sơn Tây cũ và tỉnh Hà Tây). Thị xã Sơn Tây được đưa vào diện nghiên cứu tương đương như một đơn vị cấp huyện do cùng nằm trong vùng văn hóa Xứ Đoài với kinh tế nông nghiệp truyền thống chiếm tỷ trọng chủ yếu, đồng thời giữ vai trò trung tâm kết nối các hoạt động kinh tế với mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch tâm linh và du lịch sinh thái của toàn vùng.
  • Thời gian: Nguồn số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo chính thống đã công bố chủ yếu trong giai đoạn 2005 - 2015; số liệu điều tra, khảo sát thực tế được thực hiện trong năm 2015; một số số liệu tổng hợp về khu, cụm công nghiệp được cập nhật đến tháng 6 năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài được tác giả phân chia theo ba nhóm nội dung:

  • Nhóm nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết phát triển kinh tế nông thôn: Mike Douglass (năm 2013) nghiên cứu phong trào Saemaul Undong ở Hàn Quốc, chỉ rõ mô hình dựa trên ba đặc tính "Chăm chỉ - Tự vượt khó khăn - Hợp tác", giúp thay đổi tâm lý thụ động của cư dân, tăng cường đầu tư hạ tầng cơ sở và tổ chức sản xuất cộng đồng; Jennifer Cheung (năm 2012) khảo sát sự dịch chuyển lao động nội địa tại Trung Quốc, ghi nhận xu hướng "ly nông bất ly hương" (dẫn chứng tại tỉnh Tứ Xuyên năm 2012 có 10,9 triệu lao động làm việc trong tỉnh, tăng 23,7% so với năm trước, trong khi số di cư khỏi tỉnh giảm 4,1%); Li Luping (năm 2012) nghiên cứu biến đổi thu nhập hộ gia đình ở 4 vùng nông thôn Trung Quốc, xác định giáo dục là nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng thu nhập và việc làm phi nông nghiệp giúp hộ nghèo cải thiện đời sống.
  • Nhóm nghiên cứu về nội dung và tính bền vững: Sándor Magda, Róbert Magda và Sándor Marselek (năm 2010) phân tích quá trình chuyển đổi nông nghiệp Hungary từ cơ chế tập trung sang kinh tế thị trường sau năm 1990 gắn liền với chính sách tư hữu hóa ruộng đất và ứng dụng công nghệ cao; Piyawan Suksri (năm 2011) đánh giá việc sản xuất xăng sinh học và phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Thái Lan nhằm giảm thiểu phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật; Báo cáo quốc gia của Bộ Nông nghiệp Indonesia (Ministry of Agriculture, Indonesia, năm 2011) giới thiệu mô hình trang trại "aqua-terra" kết hợp tăng vụ truyền thống với thâm canh chiều sâu, cơ giới hóa đồng bộ và phòng chống suy thoái đất.
  • Nhóm nghiên cứu về mô hình và giải pháp: Serey Mardy và các cộng sự (năm 2014) đúc kết bài học về quy hoạch, kết cấu hạ tầng và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho nông nghiệp Campuchia; Ren Mu và Dominique van de Walle (năm 2011) nghiên cứu hiện tượng tái phân bổ lao động phụ nữ tại nông thôn Trung Quốc khi nam giới di cư, chỉ ra tình trạng gia tăng gánh nặng việc đồng áng và suy giảm phúc lợi nghỉ ngơi của phụ nữ ở lại; Arnab K. Basu (năm 2013) đánh giá Đạo luật quốc gia về Bảo lãnh việc làm nông thôn ở Ấn Độ đối với việc ổn định thị trường lao động thời vụ và nâng cao phúc lợi xã hội.

Tổng quan các nghiên cứu trong nước được luận án hệ thống hóa qua ba nhóm:

  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nông thôn: Tác giả điểm lại các luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan điểm "lấy canh nông làm gốc", vai trò song hành giữa công nghiệp và nông nghiệp như "hai chân của nền kinh tế nước nhà", sự cần thiết phải củng cố quan hệ sản xuất thông qua việc chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã và bảo đảm lợi ích kinh tế thiết thực của người nông dân.
  • Nhóm công trình về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam: Đỗ Hoài Nam và Lê Cao Đoàn (năm 2004) làm rõ vai trò của kết cấu hạ tầng nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa; Nguyễn Sinh Cúc (năm 2003, 2013) nghiên cứu đường lối đổi mới nông nghiệp và đánh giá 25 năm thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, chỉ rõ bất cập về quy mô ruộng đất manh mún; Bùi Quang Dũng (năm 2010) phân tích các vấn đề việc làm và hiện tượng di cư đảo chiều từ đô thị về nông thôn; Bùi Nữ Hoàng Anh (năm 2012) nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái; Phùng Văn Dũng (năm 2010) phân tích cơ hội và thách thức của nông nghiệp sau khi gia nhập WTO.
  • Nhóm công trình về phát triển bền vững kinh tế nông thôn: Đỗ Đức Quân (năm 2004) nghiên cứu phát triển bền vững đồng bằng Bắc Bộ gắn với khu công nghiệp; Nguyễn Từ (năm 2008) luận giải vị trí ngành nông nghiệp trong phát triển bền vững; Lê Quốc Sử (năm 2004) và Lê Vũ Anh (năm 2007) phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; Nguyễn Thị Bích Đào (năm 2013) phân tích thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn; Trương Duy Hoàng (năm 2006) đề xuất giải pháp tài chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu; Nguyễn Hữu Tập (năm 2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế nông thôn và thế trận quốc phòng toàn dân; Đào Duy Tâm (năm 2012) nghiên cứu chuỗi rau an toàn tại Hà Nội; Nguyễn Quang Minh (năm 2012) nghiên cứu hạ tầng nông thôn tỉnh Thanh Hóa; Trần Hồng Quảng (năm 2014) khảo sát kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận kinh tế nông thôn theo từng ngành kinh tế đơn lẻ (nông nghiệp thuần túy, đất đai, lao động việc làm) hoặc theo góc độ quản trị học, địa bàn cấp tỉnh, huyện biệt lập. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ Kinh tế chính trị Mác - Lênin về phát triển kinh tế nông thôn bền vững tại không gian vùng liên huyện phía Tây thành phố Hà Nội – khu vực mang tính chất chuyển tiếp đô thị - nông thôn thuộc không gian văn hóa Xứ Đoài, chịu tác động trực tiếp từ biến động sáp nhập địa giới hành chính năm 2008 và định hướng quy hoạch hành lang xanh của Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích: Luận án vận dụng hệ thống lý luận của Kinh tế chính trị Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sự tương tác giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp; các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Về khung khái niệm phát triển bền vững, tác giả tiếp thu các định nghĩa từ Báo cáo Brundtland (năm 1987), Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro (năm 1992) và Johannesburg (năm 2002), xác định phát triển bền vững là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Khái niệm kinh tế nông thôn được tham chiếu từ Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Báo cáo Đổi mới và Hiệu suất (PIU, năm 1999) của Vương quốc Anh, Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2008 của Ngân hàng Thế giới và Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin.

Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: Kinh tế nông thôn là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông, lâm, ngư nghiệp, cùng với các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; là tổng thể các mối quan hệ kinh tế hữu cơ giữa khu vực nông thôn với toàn bộ vùng, địa phương, nền kinh tế quốc dân; với cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ của khu vực nông thôn. Khung phân tích của luận án tập trung xem xét sự phát triển bền vững kinh tế nông thôn qua hai phương diện nền tảng:

  • Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: cơ cấu lao động, kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (từ độc canh sang chuyên canh quy mô lớn, từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ).
  • Sự hoàn thiện của quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất (đặc biệt là quyền sử dụng đất đai theo Luật Đất đai năm 1988 và năm 2013), các hình thức tổ chức sản xuất (kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, mô hình hợp tác xã kiểu mới hoạt động theo chuỗi giá trị), liên kết kinh tế giữa nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước, cùng việc bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao động.

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai theo từng chương:

  • Chương 1: Phương pháp hệ thống hóa, phân tích, đánh giá tổng hợp kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm rút ra khoảng trống khoa học.
  • Chương 2: Phương pháp quy nạp - diễn giải và hệ thống hóa để xây dựng khung lý thuyết về kinh tế nông thôn phát triển bền vững và khái quát các bài học kinh nghiệm.
  • Chương 3: Phương pháp duy vật lịch sử và logic kết hợp trừu tượng hóa khoa học để phân tích đối tượng; phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh và mô hình hóa để đánh giá các chuỗi số liệu thực trạng; sử dụng hệ thống bảng biểu, đồ thị để minh họa.
  • Chương 4: Phương pháp hệ thống hóa, quy nạp kết hợp phân tích tổng hợp nhằm đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ Niên giám thống kê thành phố Hà Nội, Tổng cục Thống kê, các báo cáo tổng kết của UBND thành phố Hà Nội, UBND 7 huyện và thị xã phía Tây; văn bản pháp quy của Trung ương và Thành ủy, HĐND thành phố Hà Nội (đặc biệt là Nghị quyết 26-NQ/TW và đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến 2030, tầm nhìn 2050); số liệu điều tra khảo sát năm 2015 trên địa bàn nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến kinh tế nông thôn phát triển bền vững

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước về ba chủ đề trọng tâm: vai trò của phát triển kinh tế nông thôn, nội hàm tính bền vững và các giải pháp thúc đẩy kinh tế nông thôn. Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra kinh nghiệm từ phong trào Saemaul Undong (Hàn Quốc) về phát huy nội lực cộng đồng và xây dựng hạ tầng; kinh nghiệm "ly nông bất ly hương" từ các vùng nội địa Trung Quốc; mô hình chuyển đổi sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn tại Hungary; sản xuất xăng sinh học và nông nghiệp hữu cơ tại Thái Lan; mô hình canh tác kết hợp "aqua-terra" và cơ giới hóa tại Indonesia; cùng các nghiên cứu về lao động nữ và bảo lãnh việc làm tại Ấn Độ và Trung Quốc.

Về nghiên cứu trong nước, tác giả phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp và hợp tác xã; đồng thời hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, lao động, chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển bền vững tại các vùng miền. Từ đó, chương 1 rút ra kết luận khoa học: đa số các nghiên cứu tiếp cận theo các nhánh ngành riêng lẻ hoặc địa phương cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ Kinh tế chính trị Mác - Lênin về kinh tế nông thôn phát triển bền vững tại vùng liên huyện phía Tây Hà Nội – nơi có tính chất chuyển tiếp vành đai sinh thái sau khi sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế nông thôn phát triển bền vững

Chương 2 luận giải các phạm trù lý luận nền tảng và khẳng định 4 vai trò của kinh tế nông thôn phát triển bền vững: (1) Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung; (2) Đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn và tăng thu ngân sách; (3) Tạo cơ sở xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường sinh thái; (4) Củng cố quốc phòng, an ninh và tạo điều kiện hội nhập quốc tế.

Tác giả dẫn chứng dữ liệu: thu nhập bình quân của người dân nông thôn Việt Nam năm 2013 đạt 19,97 triệu đồng/năm, gấp 2,8 lần năm 2008 (loại trừ trượt giá tăng 36%, bình quân tăng 6,4%/năm). Trong 3 năm (2011 - 2013), tổng vốn huy động xây dựng nông thôn mới cả nước đạt hơn 485.000 tỷ đồng (ngân sách nhà nước chiếm 33,4%, vốn tín dụng chiếm 47,7%, doanh nghiệp đóng góp 6%, dân cư đóng góp 12,9%). Luận án tổng hợp sự thay đổi cơ cấu thu nhập hộ gia đình nông thôn qua Bảng 2.2:

Nguồn thu nhập chính (%) Năm 2006 (Không nghèo) Năm 2006 (Nghèo) Năm 2010 (Không nghèo) Năm 2010 (Nghèo) Năm 2015 (Không nghèo) Năm 2015 (Nghèo)
Chăn nuôi 18,5 34,9 16,5 31,8 13,3 27,9
Trồng trọt 6,1 12,3 3,4 11,2 2,4 10,2
Thủy sản và hoạt động nông nghiệp khác 4,3 8,2 3,2 7,9 2,7 7,8
Sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 20,7 7,4 21,6 7,3 22,7 7,1
Tiền công 34,3 24,7 42,6 28,9 46,5 31,1
Tiền gửi bên ngoài 9,3 7,1 8,3 7,3 7,3 8,6
Thu nhập khác 6,8 5,4 4,4 5,6 5,1 7,3

Về lực lượng sản xuất, chương nêu rõ cơ cấu lao động có tham gia hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam gồm: lao động thuần nông chiếm trên 46%, lao động nông nghiệp kiêm ngành nghề khác chiếm 32,1%, và lao động phi nông nghiệp có hoạt động phụ nông nghiệp chiếm 21,9%. Tác giả phân tích 4 nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế: (1) Từ độc canh sang chuyên canh quy mô lớn; (2) Từ khép kín sang sản xuất hàng hóa hướng vào xuất khẩu; (3) Từ thuần nông sang tổng hợp nông - công nghiệp - dịch vụ; (4) Đa dạng hóa các thành phần kinh tế. Về quan hệ sản xuất, chương phân tích sự hoàn thiện quan hệ sở hữu ruộng đất qua Luật Đất đai năm 1988 và năm 2013, sự phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới hoạt động theo chuỗi giá trị và liên kết kinh tế nhiều bên. Phần cuối chương đúc kết kinh nghiệm thực tiễn từ các nước và một số địa phương trong nước.

Chương 3: Thực trạng kinh tế nông thôn phát triển bền vững các huyện phía Tây của thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2015

Chương 3 phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của 7 đơn vị hành chính: Hoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Ba Vì và Thị xã Sơn Tây. Tác giả phân tích các yếu tố thuận lợi về vị trí địa lý ven đô, hạ tầng giao thông kết nối trung tâm, truyền thống văn hóa Xứ Đoài; đồng thời chỉ rõ những bất cập: sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ lẻ, phân tán; đất nông nghiệp suy giảm nhanh do san lấp và phát triển công nghiệp; môi trường nước mặt và không khí tại các làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng.

Chương trình bày hệ thống số liệu thực nghiệm phản ánh các khía cạnh kinh tế - xã hội:

  • Cơ cấu sử dụng đất tính đến 31/12/2015 (Bảng 3.1) cho thấy sức ép chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.
  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng và ngành giai đoạn 2010 - 2015 (Bảng 3.2 và Bảng 3.3; Biểu đồ 3.1) phản ánh sự giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
  • Quy mô diện tích, dân số, mật độ dân số tính đến 31/12/2015 (Bảng 3.4) và số người trong độ tuổi lao động chia theo ngành nghề (Bảng 3.5) cho thấy sự phân bổ lao động không đồng đều giữa các huyện.
  • Kết quả giải quyết việc làm (Bảng 3.6), tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên (Biểu đồ 3.2) và đào tạo nghề giai đoạn 2005 - 2015 (Biểu đồ 3.3).
  • Hoạt động của các khu, cụm công nghiệp tính đến tháng 6/2016 (Bảng 3.7) và kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (Bảng 3.8).
  • Thực trạng các hình thức tổ chức sản xuất giai đoạn 2010 - 2015 (Biểu đồ 3.4), phản ánh sự chậm chạp trong đổi mới hợp tác xã nông nghiệp và tình trạng thiếu liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm kinh tế nông thôn phát triển bền vững ở các huyện phía Tây của thành phố Hà Nội đến năm 2025 và những năm tiếp theo

Chương 4 xác định phương hướng phát triển kinh tế nông thôn vùng phía Tây đặt trong định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn 2050, với mục tiêu hình thành vành đai xanh và các hành lang sinh thái. Tác giả đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp:

  • Hoàn thiện công tác quy hoạch: Xây dựng và quản lý quy hoạch kinh tế nông thôn đồng bộ với quy hoạch đô thị và vùng vành đai xanh; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
  • Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông thôn: Phát triển nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ sinh học; xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn, hoa cây cảnh, cây ăn quả và chăn nuôi tập trung xa khu dân cư; phát triển công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp làng nghề gắn với xử lý ô nhiễm; mở rộng dịch vụ thương mại và du lịch sinh thái, tâm linh tại Ba Vì và Sơn Tây.
  • Đổi mới quan hệ sản xuất và các hình thức tổ chức sản xuất: Thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai thông qua thuê quyền sử dụng đất hoặc góp vốn bằng đất; chuyển đổi mô hình hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp sang cung cấp dịch vụ tổng hợp; hoàn thiện cơ chế liên kết kinh tế theo chuỗi giá trị (mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông).
  • Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Đầu tư kiên cố hóa giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, hệ thống cấp điện, nước sạch và mạng lưới thông tin liên lạc; hoàn thiện hệ thống trường học, trạm y tế và nhà văn hóa xã đạt chuẩn nông thôn mới.
  • Đào tạo nguồn nhân lực: Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng phi nông nghiệp và kỹ thuật canh tác giá trị cao, tạo việc làm tại chỗ theo phương châm "ly nông bất ly hương".
  • Bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải và nước thải tập trung tại các làng nghề; kiểm soát hóa chất nông nghiệp; khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ để bảo vệ nguồn nước và cân bằng sinh thái.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về kinh tế nông thôn phát triển bền vững dưới góc độ không gian kinh tế vùng liên huyện, đặt trong bối cảnh cụ thể của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng nông thôn mới tại thành phố Hà Nội.
  • Hệ thống hóa các luận điểm Kinh tế chính trị Mác - Lênin về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế nông thôn với bảo vệ môi trường sinh thái và ổn định xã hội ở vùng ven đô.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Phân tích, mô tả và đánh giá toàn diện thực trạng kinh tế nông thôn tại 7 huyện và thị xã phía Tây thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2005 - 2015 theo các tiêu chí phát triển bền vững, làm rõ những biến đổi sâu sắc từ mốc thời gian hợp nhất tỉnh Hà Tây vào Thủ đô Hà Nội (ngày 01/8/2008).
  • Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ, có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn các huyện phía Tây, đáp ứng định hướng quy hoạch vành đai xanh và hành lang sinh thái của Thủ đô Hà Nội đến năm 2025 và những năm tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do giới hạn về phạm vi địa bàn, luận án tập trung khảo sát 7 huyện, thị xã phía Tây thành phố Hà Nội (vùng văn hóa Xứ Đoài), chưa tiến hành phân tích so sánh đối chứng toàn diện với các huyện thuộc khu vực phía Bắc và phía Nam thành phố Hà Nội.
  • Nguồn số liệu thứ cấp thu thập chủ yếu dừng lại ở mốc thời gian năm 2015 và số liệu công nghiệp cập nhật đến tháng 6 năm 2016, chưa phản ánh các biến động kinh tế - xã hội của những năm tiếp sau.
  • Tiếp cận chủ yếu dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị nên các chỉ tiêu định lượng vi mô về chuỗi cung ứng nông sản cụ thể chưa được đi sâu phân tích bằng các mô hình kinh tế lượng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh giữa các tiểu vùng kinh tế nông thôn trên toàn địa bàn Thủ đô Hà Nội.
  • Cập nhật số liệu thực tế giai đoạn sau năm 2016 nhằm đánh giá sự biến đổi khi các huyện ven đô (như Hoài Đức, Đan Phượng) từng bước chuyển đổi cơ cấu hành chính sang cấp quận.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế tài chính và chuỗi giá trị nông nghiệp tuần hoàn trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng vành đai xanh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế: Cung cấp khung lý luận, phương pháp luận nghiên cứu mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong kinh tế nông thôn vùng chuyển tiếp ven đô.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách của thành phố Hà Nội (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố): Tham khảo dữ liệu thực trạng và các luận cứ để xây dựng quy hoạch kinh tế nông thôn, quản lý đất đai và bảo tồn không gian sinh thái vùng vành đai xanh.
  • Cấp ủy và chính quyền 7 huyện, thị xã phía Tây Hà Nội (Hoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Ba Vì, Sơn Tây): Ứng dụng các nhóm giải pháp về chuyển dịch cơ cấu lao động, đổi mới mô hình hợp tác xã, xử lý ô nhiễm làng nghề và phát triển du lịch sinh thái nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao Thị xã Sơn Tây được tác giả xếp vào phạm vi nghiên cứu tương đương như một đơn vị cấp huyện trong luận án? Trả lời: Theo luận án, Thị xã Sơn Tây cùng nằm trong không gian văn hóa Xứ Đoài của tỉnh Hà Tây cũ, có đặc điểm kinh tế nông nghiệp truyền thống chiếm vị trí chủ đạo tương đồng với các huyện lân cận. Trong cấu trúc kinh tế vùng phía Tây Hà Nội, Thị xã Sơn Tây giữ vai trò là trung tâm kết nối các hoạt động kinh tế với mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch tâm linh và du lịch sinh thái của toàn vùng.

  2. Khái niệm kinh tế nông thôn được tác giả luận án định nghĩa như thế nào dưới góc độ Kinh tế chính trị? Trả lời: Tác giả luận án định nghĩa: "Kinh tế nông thôn là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông, lâm, ngư nghiệp, cùng với các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; là tổng thể các mối quan hệ kinh tế hữu cơ giữa khu vực nông thôn với toàn bộ vùng, địa phương, nền kinh tế quốc dân; với cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ của khu vực nông thôn".

  3. Cơ cấu nguồn thu nhập chính của hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015 chuyển dịch ra sao theo số liệu luận án công bố? Trả lời: Dữ liệu Bảng 2.2 của luận án cho thấy: thu nhập từ tiền công tăng nhanh ở cả hai nhóm hộ, trong đó nhóm không nghèo tăng từ 34,3% (năm 2006) lên 46,5% (năm 2015), nhóm nghèo tăng từ 24,7% lên 31,1%. Ngược lại, tỷ trọng thu nhập từ chăn nuôi giảm ở nhóm nghèo từ 34,9% xuống 27,9% (nhóm không nghèo giảm từ 18,5% xuống 13,3%); trồng trọt ở nhóm nghèo giảm từ 12,3% xuống 10,2% (nhóm không nghèo giảm từ 6,1% xuống 2,4%). Thu nhập từ sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của nhóm không nghèo duy trì mức cao (tăng từ 20,7% lên 22,7%), trong khi ở nhóm nghèo chỉ chiếm khoảng 7,1% - 7,4%.

  4. Tỷ lệ phân bổ lao động có tham gia hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam được luận án phản ánh qua những con số nào? Trả lời: Luận án dẫn số liệu thống kê cho thấy trong tổng số người ở độ tuổi lao động có tham gia hoạt động nông nghiệp: lao động chuyên nông nghiệp (thuần nông) chỉ chiếm trên 46%, lao động nông nghiệp kiêm các ngành nghề khác chiếm 32,1%, và lao động phi nông nghiệp có hoạt động phụ nông nghiệp chiếm 21,9%.

  5. Những bất cập chủ yếu nào của kinh tế nông thôn các huyện phía Tây Hà Nội được tác giả chỉ ra khi đối chiếu với yêu cầu phát triển bền vững? Trả lời: Các bất cập chủ yếu gồm: sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, sức cạnh tranh thấp; trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật và chất lượng nhân lực thấp; diện tích đất canh tác và mặt nước bị thu hẹp nhanh chóng; môi trường làng nghề và nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; năng lực phòng chống thiên tai và dịch bệnh hạn chế; các hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị chưa bền vững.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Mạnh Phú đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững kinh tế nông thôn tại 7 huyện, thị xã phía Tây thành phố Hà Nội dưới góc độ Kinh tế chính trị Mác - Lênin. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2005 - 2015, công trình đã làm rõ các mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc bảo tồn môi trường sinh thái và quy hoạch hành lang xanh của Thủ đô. Hệ thống phương hướng và giải pháp được đề xuất bám sát định hướng của Đảng và Nhà nước, đóng góp tài liệu tham khảo cho công tác quản lý và phát triển kinh tế nông thôn thành phố Hà Nội đến năm 2025 và những năm tiếp theo.