PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc, không những cung cấp lƣơng thực thực phẩm nuôi sống con ngƣời mà còn là nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Việt Nam là một nƣớc sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc.
Trong công cuộc xây dựng nƣớc nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nƣớc ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nƣớc ta thịnh” [40, tr.275], Ngƣời còn dự đoán con đƣờng đi lên của nền kinh tế nƣớc nhà tất yếu sẽ theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và muốn thực hiện thành công vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó thì phải bắt đầu từ việc củng cố nền nông nghiệp, sản xuất ra nhiều lƣơng thực thực phẩm làm tiền đề cho quá trình này bởi vì con đƣờng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa mục tiêu phấn đấu là con đƣờng ấm no cho nhân dân. Trên tinh thần đó, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX Đảng ta cũng đã chủ trƣơng phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long là “tiếp tục phát huy vai trò của vùng lúa và nông sản, thủy sản xuất khẩu lớn nhất cả nƣớc; đẩy mạnh sản xuất và nâng cao chất lƣợng lƣơng thực, rau quả, chăn nuôi, thủy sản hàng hóa.
Phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp” [13, tr. An Giang là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có truyền thống kinh tế nông nghiệp. Có lợi thế phát triển kinh tế nông nghiệp. Quán triệt tƣ tƣởng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc, Đảng bộ An Giang luôn coi nông nghiệp là một trong những mặt trận hàng đầu, luôn tìm tòi, thể nghiệm để thực hiện đƣờng lối chung của Đảng.
Mặt khác, với tinh thần dám nghĩ dám làm, linh hoạt, sáng tạo, khoa học, Đảng bộ tỉnh đã vạch ra những chủ trƣơng, giải pháp sát hợp với hoàn cảnh tỉnh nhà, và với tinh thần “nhà nƣớc và nhân dân cùng làm”, Đảng bộ cùng bà con nông dân đã đƣa nền kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển, để ngày hôm nay An Giang tự hào là tỉnh xuất khẩu lúa lớn trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và đứng thứ nhất về xuất khẩu cá Tra, cá Basa nổi tiếng, nông nghiệp, nông thôn ngày 6 càng đổi mới, đời sống nhân dân ngày càng đƣợc cải thiện, nông nghiệp ngày càng phát triển và tăng trƣởng mạnh tạo đà cho các ngành kinh tế khác đi lên. Bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, nông nghiệp tỉnh An Giang gặp không ít khó khăn: phát triển nông nghiệp chƣa thật sự theo hƣớng bền vững, ngƣời nông dân vẫn còn gặp phải “điệp khúc” “trồng - chặt, đƣợc mùa mất giá, mất mùa đƣợc giá” trong sản xuất, …những hạn chế cần đƣợc đúc kết thành những bài học kinh nghiệm cho những năm về sau, góp phần tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà. Từ 1996 đến 2010 là khoảng thời gian tỉnh An Giang đã trải qua 3 kỳ Đại hội Đảng Bộ tỉnh An Giang đó là VI, VII, VIII. Đồng thời 1996 là năm tỉnh An Giang hoàn thành việc tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính và thành lập bộ hồ sơ, bản đồ và mốc địa giới hành chính các cấp trong tỉnh theo chỉ thị 364/CT ngày 6/11/1991 của hội đồng bộ trƣởng.
Vì vậy, Lãnh đạo An Giang có hồ sơ pháp lý để quản lý, sử dụng và khai thác tài nguyên. Năm 2010 là kết thúc 10 năm thực hiện Nghị quyết số 03 của tỉnh về đẩy nhanh công nghiệp hóa hiện đai hóa nông nghiệp nông thôn. Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1996 – 2010” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục đích Làm rõ quan điểm, chủ trƣơng, chính sách và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang về phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1996-2010. Nêu lên thành tựu cũng nhƣ hạn chế về phát triển kinh tế nông nghiệp dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ. Từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong phát triển nông nghiệp tỉnh An Giang trong thời gian tới. Nhiệm vụ: - Trình bày cơ sở phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh An Giang 7 - Nêu thực trạng nông nghiệp An Giang trƣớc 1996.
Từ đó rút ra thành tựu và hạn chế - Trình bày những chủ trƣơng, chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh An Giang; kết quả thực hiện chủ trƣơng phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh An Giang 1996-2010. - Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả phát triển nông nghiệp An Giang trong những năm 1996 - 2010. - Làm rõ thành tựu, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân, kết quả của quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh An Giang. Đồng thời, thử đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm tiếp theo.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang để phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong đó bao gồm các chủ trƣơng, chính sách, và biện pháp,. mà Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo, định hƣớng, và ban hành trong suốt giai đoạn 1996 - 2010.
Phạm vi nghiên cứu - Thời gian: Thời gian nghiên cứu chính của luận văn là giai đoạn 1996 - 2010. Tuy nhiên, để có cơ sở so sánh kết quả đã đạt đƣợc trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn mở rộng thêm thời gian từ 1986 - 1995. - Không gian: Giới hạn trong địa bàn tỉnh An Giang hiện nay. Phƣơng pháp nghiên cứu Là một đề tài lịch sử, phƣơng pháp sử dụng trong luận văn không ngoài những phƣơng pháp vốn có: - Phƣơng pháp lịch sử: căn cứ vào thời gian các kỳ đại hội của Đảng bộ tỉnh An Giang, tác giả sẽ trình bày quá trình chủ trƣơng, lãnh đạo của Đảng Bộ theo trình tự thời gian.
8 - Phƣơng pháp lôgic: căn cứ vào các văn kiện, Nghị quyết của Đảng đƣợc nêu ra trong suốt giai đoạn 1996-2010, tác giả sẽ làm rõ sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trƣơng của Đảng bộ trong tình hình thực tế ở An Giang, từ đó thấy rõ những thành tựu cũng nhƣ tồn tại, hạn chế của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo phát triển nông nghiệp. - Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh. - Trong luận văn tác giả còn dùng biện pháp đồng đại để làm rõ mối quan hệ tƣơng tác giữa các sự kiện cần xem xét và tính hệ thống của nó. - Ngoài ra, để có cơ sở khách quan trong việc nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, tác giả còn sử dụng phƣơng pháp khảo sát thực tế và điều tra bằng phiếu trả lời, sau đó xử lý bằng phần mềm SPSS và sử dụng phần mềm Map Info trong vẽ biểu đồ.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5. Ý nghĩa khoa học Thông qua việc trình bày một cách hệ thống quá trình nhận thức của Đảng bộ tỉnh An Giang, tác giả mong muốn tái hiện những chủ trƣơng, chính sách của Đảng bộ trong việc thực hiện theo đƣờng lối chung của Đảng và Nhà nƣớc ta về phát triển kinh tế nông nghiệp; và những hoạt động sáng tạo của việc vận dụng đƣờng lối chung đó vào đặc điểm cụ thể của An Giang giai đoạn 1996-2010. Từ đó, tác giả bƣớc đầu hệ thống khoa học về những thành tựu, hạn chế và thử nêu lên một số kiến nghị để tiếp tục phát triển nông nghiệp chứ không dừng lại ở việc miêu tả thực tế. Ý nghĩa thực tiễn Trong mọi thời kỳ, nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng.
Vào những năm hòa bình lập lại, miền Bắc tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nông nghiệp thời kỳ này bƣớc đầu giải quyết vấn đề lƣơng thực cho đồng bào, cung cấp nguồn nguyên, vật liệu để khôi phục nền kinh tế tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp. Khi xây dựng đất nƣớc nông nghiệp giữ vai trò cung cấp nông sản đƣa nƣớc ta từ nƣớc thiếu, đói trở thành đủ và xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới vào 1990. Ở An Giang với sự tìm tòi, dũng cảm, sáng tạo của Đảng bộ cùng với bà con 9 nông dân “một nắng hai sƣơng” đã đƣa nông nghiệp An Giang có bƣớc khởi sắc mạnh mẽ: nông nghiêp phát triển khá toàn diện, con cá và cây lúa tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực, rau màu và chăn nuôi tăng mạnh… Những thành tựu trên cho ta thấy đƣợc mọi chủ trƣơng, chính sách của cả nƣớc hay ở từng vùng, từng địa phƣơng muốn đi vào cuộc sống và phát huy đƣợc tác dụng thì ngƣời lãnh đạo, ngƣời có trách nhiệm hoạch định phải nắm vững, am hiểu sâu sắc tình hình kinh tế xã hội của vùng đó, địa phƣơng đó. Điều đó, đòi hỏi ngƣời lãnh đạo không chỉ có trình độ lý luận mà còn phải có óc thực tiễn sâu sắc.
Trong quá trình lãnh đạo, ngƣời lãnh đạo cần phát huy những mặt tích cực, đồng thời mạnh dạn nhận khuyết điểm và khắc phục những tồn tại, hạn chế, để ngày càng xứng đáng hơn nữa vai trò “Đảng hết lòng hết sức phụng sự nhân dân” và củng cố niềm tin của nhân dân An Giang vào vai trò lãnh đạo của Đảng bộ nói riêng và Đảng và Nhà nƣớc ta nói chung. Luận văn có thể dùng để Đảng bộ tỉnh An Giang tham khảo, phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới. Những thành tựu, hạn chế, kiến nghị nêu ra trong vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh An Giang về phát triển kinh tế nông nghiệp, không chỉ dành riêng cho Đảng bộ tỉnh An Giang mà còn cho cả các tỉnh lân cận có hoàn cảnh tƣơng tự có thể tham khảo trong quá trình định hƣớng phát triển nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn còn có thể dùng làm tƣ liệu cho cho bạn đọc khi muốn nghiên cứu về vấn đề kinh tế nông nghiệp và làm tƣ liệu giảng dạy Lịch sử Đảng khi vận dụng vai trò lãnh đạo của Đảng bộ ở địa phƣơng.