Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2019, người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Thị Lan Hương) tiếp cận chủ đề: "Đảng bộ huyện Yên Khánh (tỉnh Ninh Bình) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015".

Theo trình bày của tác giả, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại và giữ vị trí ngành kinh tế cơ bản trong nền kinh tế quốc dân. Trong tiến trình đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, các thành tựu nông nghiệp đã góp phần ổn định xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Huyện Yên Khánh nằm ở vùng đồng bằng bồi đắp phù sa của sông Đáy ở phía đông tỉnh Ninh Bình, lấy nông nghiệp làm trọng tâm phát triển. Giai đoạn trước và trong thời kỳ nghiên cứu, kinh tế nông nghiệp Yên Khánh luôn dẫn đầu toàn tỉnh Ninh Bình về diện tích canh tác, năng suất và sản lượng. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp năm 2013 đạt 3,2%, giá trị sản xuất canh tác bình quân đạt 123 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, sự phát triển này được tác giả nhận định là vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của địa phương; nội bộ ngành nông nghiệp còn tồn tại nhiều điểm nghẽn về hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu và phương thức liên kết chuỗi giá trị. Đây là lý do tác giả thực hiện công trình này.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm sáng rõ chủ trương, đường lối và sự lãnh đạo tổ chức thực hiện của Đảng bộ huyện Yên Khánh đối với phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015; phân tích các ưu điểm và hạn chế; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế địa phương của tổ chức Đảng trong những giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định theo 3 nội dung cụ thể:

  1. Hệ thống hóa quá trình hình thành đường lối, chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp trong các Nghị quyết của Đảng và Nghị quyết của Đảng bộ huyện Yên Khánh.
  2. Phân tích quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh vận dụng các quan điểm, chủ trương đó vào thực tiễn lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương từ năm 2005 đến năm 2015.
  3. Rút ra các ưu điểm, hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 2005 – 2015.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
  • Phạm vi thời gian: Mười năm, tính từ năm 2005 đến năm 2015.
  • Phạm vi nội dung: Các chủ trương, biện pháp chỉ đạo và kết quả vận dụng đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng bộ huyện Yên Khánh trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và đổi mới mô hình tổ chức sản xuất.

Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa cơ bản phục vụ đề tài:

  • Khái niệm "kinh tế" trích dẫn từ giáo trình kinh tế chính trị, xác định kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, quan hệ sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn liền với chế độ sở hữu và phân phối lợi ích.
  • Khái niệm "nông nghiệp" được tiếp cận theo nghĩa rộng dựa trên Từ điển kinh tế (NXB Sự thật, 1997) và giáo trình Hệ thống nông nghiệp (NXB Nông nghiệp, 1999): nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất sơ khai và trọng yếu, bao gồm nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp), lâm nghiệp và thủy sản.
  • Khái niệm "kinh tế nông nghiệp" theo Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học, 1997), chỉ các nguồn lợi và giá trị kinh tế thu được từ toàn bộ các hoạt động sản xuất, chế biến, thương mại và dịch vụ trong nông nghiệp.
  • Vai trò kinh tế - xã hội của nông nghiệp được tác giả luận giải qua bốn luận điểm: cung cấp nguyên liệu và lao động đầu vào cho công nghiệp - đô thị; tích lũy ban đầu cho nền kinh tế quốc dân; tạo nguồn thu ngoại tệ qua xuất khẩu nông sản; và là thị trường tiêu thụ tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng của các ngành công nghiệp.

Về cơ sở thực tiễn của huyện Yên Khánh, văn bản nêu cụ thể các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội:

  • Diện tích tự nhiên toàn huyện là 1.392 km² (theo số liệu khóa luận nêu), chủ yếu là đất phù sa màu mỡ và đất feralit vùng đồi thấp thích hợp trồng lúa và sản xuất vật liệu xây dựng (gạch ngói, nghề đúc). Khí hậu cận nhiệt đới ẩm gió mùa, lượng mưa trung bình 1.700 – 1.800 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23,5 °C, số giờ nắng đạt 1.600 – 1.700 giờ/năm, độ ẩm không khí 80 – 85%.
  • Mạng lưới thủy văn có tổng chiều dài gần 85 km, mật độ 0,53 km/km², gồm các trục sông chính chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ra biển: sông Đáy chảy qua huyện dài 38 km (từ cống Đồng Quan đến cống Tiên Hoàng); sông Vạc dài 13,3 km (rộng 50 – 70 m); sông Mới dài khoảng 10.000 m (rộng mùa kiệt 30 – 40 m); sông Tiên Hoàng dài 11 km (rộng 10 – 12 m), cùng hệ thống sông Dưỡng Điền, sông Năm Xã phục vụ tưới tiêu và thoát lũ.
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Năm 2008, dân số toàn tỉnh Ninh Bình đạt gần 920 nghìn người, mật độ 676 người/km²; dân số trong độ tuổi lao động của huyện Yên Khánh năm 2009 chiếm 51,3% (khoảng 480,4 nghìn người theo số liệu toàn tỉnh liên đới), tỷ lệ thất nghiệp đô thị thấp (3,6%). Đến năm 2010, toàn huyện có 663 cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống.
  • Thực trạng trước năm 2005: Canh tác lạc hậu, tỷ lệ cơ giới hóa thấp, phụ thuộc cày kéo bằng trâu bò ("cày gãi, bừa quệt"), nông dân tự túc 70 – 80% hạt giống với các giống lúa cũ (Nông nghiệp 8, Nông nghiệp 5). Giai đoạn 1992 – 2001, huyện đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu mùa vụ: trà lúa xuân muộn tăng từ 26% (năm 1992) lên 90% (năm 2001); trà lúa mùa sớm và mùa trung tăng từ 33% (năm 1992) lên trên 70% (năm 2001). Năm 1993, huyện triển khai chương trình "cấp I hóa giống lúa", áp dụng kỹ thuật gieo mạ nền, mạ non che phủ nilon.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn.
  • Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Khóa luận sử dụng hai phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Đồng thời, tác giả kết hợp các phương pháp bổ trợ gồm phân tích - tổng hợp tư liệu, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh đối chiếu.
  • Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Chỉ thị số 50-CT/TW năm 2005, Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2007, Nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2008); Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình; các văn kiện, kế hoạch, chương trình hành động của Huyện ủy Yên Khánh; số liệu báo cáo của UBND huyện Yên Khánh, niên giám thống kê địa phương; kế thừa các công trình nghiên cứu của Nguyễn Sinh Cúc (1990), Lê Đình Thắng (2000), Đặng Kim Sơn (2008), Nguyễn Văn Bích (2007), Phạm Thị Hoa (2009), Nguyễn Thị Thu Hương (2013).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp

Chương 1 tập trung giải quyết hệ thống khái niệm, cơ sở lý thuyết kinh tế chính trị về nông nghiệp và phác thảo diện mạo tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Yên Khánh trước thềm năm 2005. Tác giả chỉ ra rằng Yên Khánh là huyện có truyền thống thâm canh lúa nước, tuy nhiên cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp trước năm 2005 còn thiếu kiên cố, kênh mương nội đồng xuống cấp, năng lực ứng phó thiên tai hạn chế. Giai đoạn 1991 – 2001, việc thực hiện chính sách cấp I hóa giống lúa và chuyển dịch từ trà xuân sớm sang xuân muộn đã tạo tiền đề kỹ thuật quan trọng giúp địa phương nâng năng suất lúa. Sau 25 năm tái lập tỉnh Ninh Bình và huyện, kinh tế nông nghiệp Yên Khánh duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 2 – 3%/năm; giá trị sản xuất nông nghiệp toàn ngành năm 2015 đạt gần 8.300 tỷ đồng (gấp 12 lần năm 1991), giá trị trên 1 ha đất canh tác đạt 105 triệu đồng/năm (gấp 5 lần năm 2001). Tổng sản lượng thủy sản đạt 43,8 nghìn tấn (gấp 27 lần năm 1991), đàn bò và lợn tăng từ 2 đến 5 lần. Tuy vậy, máy móc trang thiết bị phục vụ sản xuất giai đoạn trước năm 2005 nhìn chung vẫn thô sơ, quy mô nông hộ còn nhỏ lẻ, chưa hình thành nền sản xuất hàng hóa tập trung.

Chương 2: Quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp (2005 – 2015)

Chương 2 là nội dung cốt lõi của khóa luận, tái hiện tiến trình cụ thể hóa chủ trương của cấp ủy cấp trên và hoạt động chỉ đạo thực tế của Huyện ủy Yên Khánh qua các giai đoạn:

  1. Tiếp thu chủ trương cấp trên:

    • Cấp Trung ương: Quán triệt Chỉ thị số 50-CT/TW (ngày 04/03/2005 của Ban Bí thư) về công nghệ sinh học; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; Nghị quyết số 08-NQ/TW (ngày 05/02/2007) của Hội nghị Trung ương 4 khóa X về phát triển kinh tế khi gia nhập WTO; và Nghị quyết số 26-NQ/TW (ngày 05/08/2008) của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về "nông nghiệp, nông dân, nông thôn".
    • Cấp Tỉnh: Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy Ninh Bình giai đoạn 2010 – 2015 về phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao gắn với mô hình "Mỗi làng một nghề, mỗi xã một sản phẩm chủ lực", duy trì 76.000 ha lúa toàn tỉnh (trên 50% diện tích lúa chất lượng cao), ổn định 2.000 ha dứa, 5% diện tích rau an toàn.
    • Cấp Huyện: Huyện ủy Yên Khánh ban hành Chương trình hành động số 24 nhằm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, xác định mục tiêu đột phá về năng suất, nâng cao giá trị trên 1 ha đất canh tác, chuyển dịch cơ cấu giống và thúc đẩy liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông).
  2. Quá trình chỉ đạo ban hành chính sách và tổ chức thực hiện:

    • Ban hành chính sách đất đai và dồn điền đổi thửa, tạo điều kiện tích tụ ruộng đất; thành lập Quỹ Khuyến nông huyện Yên Khánh từ ngày 01/01/2005 với vốn điều lệ ngân sách cấp ban đầu 6 tỷ đồng. Giai đoạn 2005 – 2010, Quỹ Khuyến nông đã giải ngân cho vay hàng trăm tỷ đồng phục vụ các mô hình chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng giống mới. Triển khai các gói vay ưu đãi từ "Quỹ vì người nghèo".
    • Chỉ đạo cơ giới hóa sản xuất: Đạt tỷ lệ 100% diện tích làm đất bằng máy móc, trên 30% diện tích áp dụng phương pháp gieo sạ thẳng, trên 60% diện tích thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp. Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương cấp I và cấp II đến năm 2011 đạt 76%.
  3. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật:

    • Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 20.552 ha, trong đó đất trồng lúa là 15.381 ha. Diện tích lúa gieo cấy theo quy trình chất lượng cao đạt 10.209,9 ha (chiếm 66,38% diện tích lúa toàn huyện). Cơ cấu vụ đông xuân chuyển dịch 90% diện tích sang trà xuân muộn; vụ mùa chuyển dịch 80% sang trà lúa sớm với các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao gồm LT2, Bắc thơm số 7, QR, RVT. Diện tích lúa chất lượng cao thường xuyên duy trì trên 7.000 ha/năm, giúp giá trị sản xuất tăng thêm 9 – 10 triệu đồng/ha so với giống cũ. Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 123,9 tạ/ha; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 97.399 tấn; giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác đạt 121 triệu đồng/ha.
    • Xây dựng vùng lúa chất lượng cao VietGAP quy mô 2.000 ha (đến năm 2010 đã thực hiện 1.000 ha tại Khánh Nhạc, Khánh Thủy, Khánh Thành). Dự án cánh đồng mẫu lớn triển khai tại 6 xã với tổng diện tích 1.700 ha; năm 2013 các doanh nghiệp đã bao tiêu và xuất khẩu trên 1.000 tấn lúa chất lượng cao.
    • Vụ đông: Diện tích canh tác hàng năm ước đạt 3.200 ha (trong đó có 1.850 ha đất hai lúa), hình thành các vùng chuyên canh ngô, bí xanh, khoai tây, rau an toàn, dưa chuột, trạch tả; giá trị sản xuất vụ đông đạt 164,8 tỷ đồng/năm. Thí điểm mô hình liên kết doanh nghiệp cơ giới hóa 100% khâu sản xuất tại xã Khánh Tiên, Khánh Hòa (50 ha khoai tây) và xã Khánh Trung (20 ha ngô). Vùng trồng rau củ quả an toàn tập trung quy mô 150 ha rau truyền thống và 100 ha rau mới tại xã Khánh Hồng, Khánh Hải, Khánh Thành và thị trấn Yên Ninh.
    • Chăn nuôi: Chuyển đổi từ chăn nuôi phân tán sang gia trại, trang trại tập trung. Ứng dụng công nghệ xử lý môi trường bằng đệm lót sinh học trong nuôi gà và lợn tại các xã Khánh Thủy, Khánh Nhạc, Khánh Hồng, Khánh Thành. Phát triển các đối tượng vật nuôi mới như nuôi vịt trời (xã Khánh Tiên), nuôi hươu (xã Khánh Trung).
    • Thủy sản và kinh tế đồi rừng: Đến năm 2014, chuyển đổi 500 ha mô hình lúa - cá và 50 ha vùng ruộng trũng, bãi ven sông sang nuôi thủy sản thâm canh các loài có giá trị thương phẩm cao như cá trắm ốc, cá lóc bông, ba ba tại xã Khánh Tiên, Khánh Thành, Khánh Thủy. Thực hiện chuyển đổi 1.789 ha rừng phòng hộ ít xung yếu sang rừng sản xuất. Nghề sản xuất nấm (nấm ăn, nấm Kim Phúc) tạo giá trị từ 35 – 40 tỷ đồng/năm.

Bảng tổng hợp các chỉ số nông nghiệp huyện Yên Khánh giai đoạn 2005 – 2015 ghi nhận trong khóa luận:

Chỉ tiêu nông nghiệp Số liệu ghi nhận trong văn bản Địa bàn / Phạm vi áp dụng
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 3,2% (năm 2011, 2013) Toàn huyện Yên Khánh
Tổng giá trị ngành nông, lâm, thủy sản 1.844 tỷ đồng (năm 2011) Toàn huyện Yên Khánh
Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác 85 triệu đ/ha (2010) lên 121 - 130 triệu đ/ha (2011 - 2015) Toàn huyện Yên Khánh
Sản lượng lương thực có hạt 95.000 tấn/năm (bình quân), đạt 97.399 tấn Toàn huyện Yên Khánh
Tỷ lệ cơ giới hóa làm đất 100% diện tích Toàn huyện Yên Khánh
Tỷ lệ thu hoạch bằng máy gặt Trên 60% diện tích Toàn huyện Yên Khánh
Tỷ lệ gieo sạ thẳng Trên 30% - 50% diện tích Toàn huyện Yên Khánh
Kiên cố hóa kênh mương cấp I, II 76% (năm 2011) Toàn huyện Yên Khánh
Quy mô cánh đồng mẫu lớn 1.700 ha Triển khai tại 6 xã
Diện tích sản xuất vụ đông 3.200 ha (1.850 ha đất lúa), giá trị 164,8 tỷ đ/năm Toàn huyện Yên Khánh
Diện tích lúa chất lượng cao Trên 7.000 ha/năm (lúa theo tiêu chuẩn 10.209,9 ha) Các xã vùng trọng điểm
Mô hình chuyển đổi lúa - cá 500 ha lúa - cá, 50 ha thủy sản thâm canh Khánh Tiên, Khánh Thành, Khánh Thủy
Cơ sở sản xuất kinh doanh giỏi 256 – 262 mô hình (vốn 400 triệu – 4 tỷ đ/cơ sở) Toàn huyện Yên Khánh

Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Tác giả đánh giá tổng thể quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Yên Khánh:

  • Ưu điểm: Cấp ủy huyện có sự đổi mới trong tư duy lãnh đạo, kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy thành chương trình hành động sát thực tế địa phương. Chỉ đạo quyết liệt công tác dồn điền đổi thửa, cơ giới hóa, thay đổi cơ cấu trà lúa và quy hoạch cánh đồng mẫu lớn. Giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản tăng từ 195,74 tỷ đồng (năm 1996) lên 396,2 tỷ đồng (năm 2012, tăng 200,46 tỷ đồng). Toàn huyện xây dựng được 262 mô hình sản xuất kinh doanh giỏi có mức vốn đầu tư từ 400 triệu đến 4 tỷ đồng, nâng thu nhập cho người dân từ 18 – 22%. Các hợp tác xã (HTX) từng bước tổ chức lại dịch vụ thủy lợi, làm đất và cung ứng vật tư.
  • Nguyên nhân ưu điểm: Có sự chỉ đạo xuyên suốt của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Ninh Bình; sự đoàn kết, chủ động của Ban Thường vụ Huyện ủy Yên Khánh; cơ chế mở rộng dân chủ cơ sở và phát huy trách nhiệm của người đứng đầu.
  • Hạn chế:
    • Nhận thức và kỷ luật công vụ: Một bộ phận cán bộ ở cơ sở chưa sát sao thực tế, có biểu hiện tư lợi cục bộ, buông lỏng công tác lãnh đạo quản lý; nhân viên cấp dưới chấp hành chỉ đạo chưa nghiêm túc.
    • Chỉ đạo sản xuất: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn chậm, trồng trọt vẫn dựa chủ yếu vào cây lúa. Quy mô sản xuất của hộ gia đình còn nhỏ lẻ, phân tán. Khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch kém phát triển, nông sản chủ yếu bán thô. Huyện chưa xây dựng được thương hiệu hàng hóa mạnh và chỉ dẫn địa lý hoàn chỉnh cho các mặt hàng chủ lực. HTX dịch vụ nông nghiệp chậm chuyển đổi cơ chế hoạt động.
    • Hạn chế cụ thể trong các phân ngành: Trong trồng trọt, cơ cấu mùa vụ ở một số xã chuyển đổi chậm, tỷ lệ tích diện lúa mùa muộn còn cao làm thu hẹp quỹ đất vụ đông; thời tiết cực đoan (rét đậm kéo dài, bão lũ) gây sụt giảm năng suất. Trong chăn nuôi, công tác tiêm phòng dịch tễ cơ sở còn lơ là, để bùng phát dịch cúm gia cầm và lở mồm long móng; giá thức ăn gia súc tăng cao khiến nhiều trang trại thua lỗ. Trong thủy sản, tỷ trọng kinh tế ngành thủy sản còn thấp, các cấp chính quyền chưa đầu tư đúng mức, hạ tầng dịch vụ nghề cá tự phát và thiếu chuỗi bao tiêu tập trung.
  • Kinh nghiệm lãnh đạo rút ra: Cần thường xuyên nâng cao bản lĩnh và tư duy của cấp ủy; quán triệt sâu sát các chủ trương của Đảng; coi trọng khâu quy hoạch vùng sản xuất gắn với cơ chế hỗ trợ tài chính, đất đai; chủ động liên kết doanh nghiệp với nông dân; chú trọng đầu tư công nghệ bảo quản chế biến và hệ thống kiểm soát dịch bệnh nghiêm ngặt.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu thực tiễn, khóa luận phản ánh bức tranh phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Yên Khánh giai đoạn 2005 – 2015 qua hệ thống dữ liệu:

  • Kinh tế nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng ổn định (3,2%), tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản năm 2011 đạt 1.844 tỷ đồng. Giá trị canh tác trên 1 ha đất nông nghiệp tăng từ 85 triệu đồng (năm 2010) lên 121 – 125 triệu đồng (năm 2015), vượt chỉ tiêu đề ra tại Đại hội Đảng bộ huyện.
  • Hoàn thành cơ bản chương trình dồn điền đổi thửa và cơ giới hóa nông nghiệp (100% diện tích làm đất bằng máy móc, trên 60% diện tích thu hoạch bằng máy gặt). Quy hoạch thành công 1.700 ha cánh đồng mẫu lớn tại 6 xã và 1.000 – 2.000 ha vùng lúa chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGAP.
  • Triển khai hiệu quả các cơ chế kinh tế: Quỹ Khuyến nông (vốn 6 tỷ đồng ban đầu) và các gói tín dụng ưu đãi đã trợ lực cho 256 – 262 cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp giỏi, nâng thu nhập hộ tham gia từ 18% đến 22%. Vụ đông được nâng lên thành vụ sản xuất chính với doanh thu 164,8 tỷ đồng/năm.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự khẳng định trong phần Mở đầu:

  • Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên biệt về quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 2005 – 2015.
  • Khóa luận đã hệ thống hóa các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ huyện qua các kỳ đại hội; làm rõ thực trạng vận dụng chính sách nông nghiệp vào thực tiễn địa phương.
  • Sản phẩm nghiên cứu bổ sung nguồn tư liệu thực tiễn vào kho tư liệu Lịch sử Đảng bộ địa phương của tỉnh Ninh Bình trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Theo phạm vi được tác giả xác lập, đề tài dừng mốc thời gian khảo sát vào năm 2015, do đó chưa cập nhật được tình hình kinh tế nông nghiệp của huyện Yên Khánh trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu từ sau năm 2015.
  • Nguồn số liệu trích dẫn trong văn bản ở một số đoạn còn bị ngắt quãng hoặc thiếu thống nhất giữa các chỉ tiêu tổng hợp (ví dụ: sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2011 bị khuyết số liệu cụ thể ở trang 32; số liệu giá trị sản xuất năm 2011 và 2012 ghi nhận tại các báo cáo chuyên ngành có độ lệch giữa giá trị danh nghĩa và giá trị ngành nông lâm thủy sản).
  • Công trình chủ yếu dựa trên báo cáo văn kiện và tổng kết của các cơ quan quản lý nhà nước huyện, chưa tích hợp các điều tra xã hội học định lượng diện rộng trực tiếp tại từng hộ nông dân.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ nội dung:

  • Tiếp tục nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn sau năm 2020.
  • Khảo sát sâu hơn về hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và vai trò của các doanh nghiệp bao tiêu nông sản xuất khẩu trên địa bàn huyện.
  • Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn và hiệu quả của các giải pháp công nghệ sinh học (đệm lót sinh học, chế phẩm sinh học) trong chăn nuôi quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Giáo dục Chính trị, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương trên lĩnh vực kinh tế; cách phân kỳ lịch sử và kết cấu một đề tài khoa học lịch sử Đảng cấp huyện.
  • Cán bộ làm công tác Đảng, chính quyền, khuyến nông tại huyện Yên Khánh và các địa phương tương đồng ở vùng đồng bằng sông Hồng: Tham khảo thực tiễn chỉ đạo dồn điền đổi thửa, phát triển cánh đồng mẫu lớn, tổ chức sản xuất lúa chất lượng cao VietGAP và phương thức quản lý Quỹ Khuyến nông cấp huyện.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là mục "Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu" và "Chỉ đạo ứng dụng khoa học kĩ thuật" tại Chương 2, nơi ghi chép chi tiết các thông số kỹ thuật về cơ cấu trà lúa (xuân muộn, mùa sớm), tên các giống lúa thuần chất lượng cao (LT2, Bắc thơm số 7, QR, RVT) và địa bàn phân bố các mô hình chuyên canh cây vụ đông, thủy sản tại các xã cụ thể (Khánh Thành, Khánh Tiên, Khánh Nhạc, Khánh Thủy, Khánh Trung, Khánh Hòa).

Câu hỏi thường gặp

1. Huyện ủy Yên Khánh đã ban hành những chính sách hỗ trợ tài chính cụ thể nào để phát triển nông nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu? Huyện ủy Yên Khánh đã chỉ đạo thành lập và đưa Quỹ Khuyến nông đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2005 với số vốn ngân sách cấp là 6 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2005 – 2010, Quỹ đã hỗ trợ cho các cơ sở và đơn vị vay hàng trăm tỷ đồng để mở rộng quy mô, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Ngoài ra, huyện thực hiện chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp và hỗ trợ nguồn vốn từ "Quỹ vì người nghèo" cho các hộ khó khăn tham gia chuyển đổi giống cây trồng, con nuôi.

2. Cơ cấu giống lúa và trà lúa của huyện Yên Khánh có sự chuyển dịch cụ thể như thế nào dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện? Huyện Yên Khánh chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu trà lúa triệt để: vụ đông xuân áp dụng tới 90% diện tích là trà lúa xuân muộn; vụ mùa áp dụng 80% diện tích là trà lúa sớm cấy bằng các giống ngắn ngày, chất lượng cao như LT2, Bắc thơm số 7, QR, RVT. Diện tích lúa chất lượng cao gieo cấy thường xuyên trên 7.000 ha/năm, giúp nâng giá trị sản xuất tăng thêm 9 – 10 triệu đồng/ha so với trước.

3. Quy mô triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn và sản xuất lúa tiêu chuẩn VietGAP tại huyện Yên Khánh đạt kết quả ra sao? Huyện đã chỉ đạo xây dựng 3 mô hình lúa theo tiêu chuẩn VietGAP với diện tích 140 ha tại xã Khánh Thành (được Công ty CP Giống cây trồng và con nuôi Yên Khánh bao tiêu toàn bộ). Giai đoạn tiếp theo, huyện quy hoạch vùng sản xuất lúa chất lượng cao VietGAP quy mô 2.000 ha (đến năm 2010 đã thực hiện 1.000 ha tại Khánh Nhạc, Khánh Thủy, Khánh Thành). Bên cạnh đó, dự án cánh đồng mẫu lớn được xây dựng tại 6 xã với tổng diện tích 1.700 ha; trong năm 2013, các doanh nghiệp đã bao tiêu xuất khẩu hơn 1.000 tấn lúa chất lượng cao từ các mô hình này.

4. Khóa luận chỉ ra những điểm yếu và hạn chế lớn nhất trong ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tại Yên Khánh là gì? Trong chăn nuôi, hoạt động chuyển đổi giống chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường; công tác tiêm phòng dịch tễ chưa sát sao dẫn đến các đợt dịch cúm gia cầm và lở mồm long móng; biến động giá thức ăn tăng cao khiến người nuôi trang trại thua lỗ. Trong thủy sản, tỷ trọng kinh tế còn thấp do các cấp, các ngành chưa quan tâm thích đáng, người dân thiếu nhận thức về hiệu quả kinh tế; dịch vụ sau thu hoạch tự phát, thiếu cơ sở thu mua tập trung nên giá trị gia tăng chưa cao.

5. Mức độ cơ giới hóa nông nghiệp của huyện Yên Khánh trong giai đoạn 2005 – 2015 đạt tỷ lệ bao nhiêu? Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, tỷ lệ cơ giới hóa nông nghiệp tại Yên Khánh đạt 100% diện tích làm đất bằng máy móc; khâu gieo cấy đạt trên 30% đến trên 50% diện tích áp dụng phương pháp gieo sạ thẳng; và khâu thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp đạt trên 60% diện tích.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là công trình chuyên khảo lịch sử Đảng địa phương, phản ánh trung thực và tương đối toàn diện chặng đường 10 năm (2005 – 2015) Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo kinh tế nông nghiệp. Bằng phương pháp lịch sử và logic kết hợp khai thác văn kiện Đảng các cấp, công trình đã làm rõ các chủ trương dồn điền đổi thửa, cơ giới hóa đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu trà lúa và xây dựng cánh đồng mẫu lớn. Dù còn một số hạn chế về dữ liệu định lượng tại một vài tiểu mục, khóa luận đã chỉ rõ những thành tựu tăng trưởng, thẳng thắn phân tích các bất cập nội tại về thị trường và dịch bệnh, đồng thời đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác lãnh đạo kinh tế nông nghiệp cơ sở.