chương I, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Như vậy, theo quy định trên, bảo vệ môi trường không chỉ nhằm tới việc bảo đảm yêu cầu về hoá, lý, sinh, mà còn đảm bảo một giá trị nhân văn trong đời sống KTXH và một nguồn sống lâu dài đối với con người trong môi trường sống cho phép. Bảo vệ và quản lý môi trường hướng tới các mục đích như: khuyến khích sử dụng các vật liệu thích hợp không ô nhiễm, suy thoái môi trường; triển khai các quá trình sản xuất và tiêu dùng ít thải độc hại ra môi trường, đảm bảo an toàn đối với môi trường; xây dựng các kế hoạch về bảo vệ môi trường; đưa ra các biện pháp ngăn chặn và khắc phục hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra. Bảo vệ và quản lý môi trường phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: sự nghiệp bảo vệ và quản lý môi trường phải được triển khai đồng bộ trên toàn quốc đến từng địa phương và xuống từng cơ sở; cần có sự hợp tác quốc tế để giúp đỡ và khuyến khích, phối hợp trong hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường; tăng cường trách nhiệm pháp lý cho các hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường trên cơ sở các luật và các văn bản dưới luật được ban hành đồng bộ và thực hiện có hiệu quả; xây dựng hệ thống mạng lưới thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động môi trường.
Sau nhiều năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của nước ta đang phát triển một cách mạnh mẽ. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu chúng ta đang dần chuyển mình trở thành một nước công nghiệp, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Song mặt trái của sự phát triển kinh tế đó là làm ô nhiễm môi trường bởi các chất thải công nghiệp, nhà ở, ý thức người dân,. do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái là một đề tài được nhiều 10 nhà khoa học nghiên cứu và đối với nước ta nó trở thành một vấn đề nghiêm trọng cần giải quyết hợp lý.
Đặc điểm của làng nghề truyền thống Mỗi nghề có những đặc trưng riêng và do đó mỗi làng nghề cũng có những đặc trưng của riêng nó. Tuy nhiên các làng nghề truyền thống đều có các đặc trưng chung như sau: Quy mô sản xuất nhỏ (hộ gia đình, thôn, xóm) Các làng nghề thường có mật độ dân cư đông đúc, vì vậy thiếu mặt bằng sản xuất, các xưởng sản xuất thường xen kẽ với khu dân cư. Theo lẽ thường, các làng nghề càng phát triển mạnh thì càng thu hút nhiều lao động. Trước hết là lao động tại chỗ, con em các gia đình không phải ly hương tìm đường kiếm sống, thứ đến là làng nghề phát triển mạnh sẽ thu hút thêm lao động ở các vùng lân cận, làm cho mật độ dân cư của làng nghề đã lớn lại càng lớn hơn, trình độ quản lý yếu kém, thiết bị chắp vá lạc hậu, hoạt động thủ công là chủ yếu.
Gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp Nghề thủ công truyền thống, bắt đầu từ nông nghiệp, gắn liền với lao động ở nông thôn, nhằm phục vụ cho người dân theo hướng tự cung tự cấp, phục vụ cho nông nghiệp. Nơi đây cũng là nơi cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và cũng là thị trường tiêu thụ. Lao động tại các làng nghề chủ yếu là làm nông, địa điểm sản xuất là tại gia đình họ. Họ tự quản lí, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc nông nhàn.
Vì thế, ngoài nhu cầu tạo việc làm để có thêm thu nhập lúc nông nhàn là vấn đề cấp thiết, tính chất mùa vụ cũng tạo ra sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định, trong khi đó tại địa phương có nhu cầu sản xuất các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp,… Do đó đã thúc đầy các hoạt động sản xuất phát triển, lúc đầu chỉ phục vụ nhu cầu của gia đình, sau phát triển có quy mô, nhiều gia đình cùng tham gia khiến làng nghề hình thành và phát triển. Có truyền thống lâu đời 11 Các làng nghề truyển thống Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là những nghề lâu đời, có từ một vài trăm năm đến hàng nghìn năm. Sự hình thành cùa làng nghề thường gắn với việc các thợ thủ công tập hợp nhau lại theo các yếu tố kinh tế, như các vùng tập trung đông dân có nhu cầu về hàng thủ công hoặc để phục vụ cho một đối tượng nhất định như vua quan chốn kinh kỳ. Làng nghề hình thành ở những nơi thuận tiện về giao thông đường bộ, đường thủy và gần nguồn nhiên liệu.
Làng nghề phát triển cũng do công lao của các vị tổ nghề đã chủ động dạy nghề cho dân địa phương và những vùng xung quanh. Trải qua nhiều năm thăng trầm, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ có lúc thịnh, lúc suy. Thời bao cấp, thủ công nghiệp được liệt vào “nghề phụ nông dân”, các cơ sở tư nhân sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ được cải tạo, từ đó mai một dần. Phải đến những năm đổi mới, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ mới được khôi phục, làng nghề cũng được hồi sinh.
Có bản sắc riêng của Việt Nam Làng nghề truyền thống là một bộ phận của nền văn hóa phi vật thể, có vai trò quan trọng, thể hiện sự sáng tạo của hoạt động văn hóa Việt Nam. Giá trị văn hóa thể hiện rõ nét nhất trong các sản phẩm của làng nghề, qua bàn tay khéo léo và nghệ thuật tinh xảo của các nghệ nhân được lưu truyền hàng trăm năm nay. Mỗi sản phẩm của làng nghề không chỉ là một sản phẩm hàng hóa thông thường, mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khướu thẩm mỹ, thông minh và sáng tạo, tinh thần lao động của nghệ nhân, những người lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc trong các sản phẩm làng nghề, đồng thời không ngừng sáng tạo để làng nghề có thêm nhiều sản phẩm mới vừa phát huy truyền thống văn hóa dân tộc vừa thể hiện sức sáng tạo của nghệ nhân trong điều kiện mới. Làng nghề là cả một môi trường văn hóa, kinh tế xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời.
Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, của các thế hệ tài năng, với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam. Môi trường văn hóa làng nghề là khung cảnh làng quê, với cây đa, bến nước, sân đình,… các hoạt động lễ hội dân gian, phong tục tập quán, 12 nếp sống đậm nét dân gian và chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Làng nghề truyền thống đã làm phong phú thêm truyền thống văn hóa Việt Nam. Lao động chủ yếu bằng thủ công Trước đây, phương thức sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu.
Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, mang tính đơn chiếc, nhiều loại sản phẩm hoàn toàn phải dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ, mặc dù hiện tay đã có sự cơ khí hóa và điện khí hóa từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số nghề có khả năng cơ giới hóa được một số công đoạn trong sản xuất các sản phẩm. Phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, nghệ nhân. Trước đây, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn cũng như chi phí, thời gian và sức lao động.
Tuy nhiên vẫn có những công đoạn trong quá trình sản xuất yêu cầu trình độ cao, độ tinh xảo nhiều đòi hỏi lao động thủ công thực hiện. Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề (cha truyền con nối) trong các gia đình, từ đời này sang đời khác và hầu hết chỉ trong khuôn khổ của từng làng. Sau này, có nhiều hợp tác xã làm nghề thủ công ra đời, phương thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn. Nguyên vật liệu Đa số nguyên vật liệu của các làng nghề thường là nguyên vật liệu sẵn có, nguồn cung ứng tại chỗ hoặc được nhập từ các vùng lân cận tuy nhiên hầu hết vẫn là sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn và dồi dào tại địa phương.
Lực lượng lao động Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan hệ gia đình dòng họ, được đào tạo theo kiểu kinh nghiệm “xcha truyền con nối”. Do đó 13 bên cạnh một số ít nghệ nhân và những người thợ có tay nghề cao, thì có đến 55% lao động tại các làng nghề chưa qua đào tạo, khoảng 36% không có chuyên môn kỹ thuật. Đối với các hộ kiêm (vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề), có tới 79% lao động không có chuyên môn kỹ thuật. Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ, thăng trầm phụ thuộc vào nhu cầu thị trường trong và ngoài nước và đặc điểm sản xuất.
Làng nghề từ Bắc đến Nam có nhiều tính chất tương đồng về nghề, về sản phẩm, tính văn hoá nghệ thuật do hiện tượng di dân, di nghề và sự bành trướng tự nhiên của hiện tượng kinh tế – xã hội làng nghề. Trình độ công nghệ và các phương tiện sản xuất tại các làng nghề ở nông thôn còn lạc hậu, hạ tầng kỹ thuật rất thấp, chỉ khoảng 20% các cơ sở có nhà xưởng kiên cố, 86% có sử dụng điện, 37% công việc được cơ khí hoá còn lại tới trên 60% làm bằng tay. Hầu hết các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc có cải tiến một phần.